CHƯƠNG I. TỔNG QUAN MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ TIÊU THỤ ĐỘNG VẬT HOANG DÃ TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM 1. Khái quát trạng buôn bán và tiêu thụ ĐVHD trên thế giới và ở Việt Nam 1. Trên thế giới Nạn buôn bán trái phép ĐVHD trên toàn cầu đang ngày càng gia tăng.
Các chuyên gia kinh tế giá trị buôn bán trái phép ĐVHD trên toàn cầu ước tính ít nhất là 5 tỷ USD và có thể lên đến 20 tỷ USD mỗi năm [29]. Số liệu này đồng nghĩa với thực trạng có hàng triệu cá thể động vật hoang dã, nhất là các loài thú lớn, chim và bò sát có nguồn gốc từ thiên nhiên bị buôn bán phi pháp qua biên giới hàng năm trong bối cảnh nhu cầu thị trường mua bán, tiêu thụ và sử dụng chúng (và các sản phẩm của chúng) ngày càng tăng cao. Chính vì lợi nhuận từ việc buôn bán ĐVHD rất cao, đặc biệt nhu cầu gia tăng từ châu Á và việc khách hàng sẵn sàng trả giá cao để có đươc̣ những sản phẩm từ ĐVHD đã khiến cho hoạt động buôn bán ĐVHD trái phép ngày càng gia tăng và hình thành nên các mạng lưới buôn bán xuyên quốc gia với nhiều thủ đoạn tinh vi và quy mô khổng lồ. Một số các sản phẩm từ ĐVHD được tiêu thụ phổ biến hiện nay chính là sừng tê giác, ngà voi, các sản phẩm từ hổ, gấu, các loài động vật nhỏ như tê tê, rùa, một số loài cầy… Hoạt động buôn bán trái phép ngà voi đã tăng gấp đôi kể từ năm 2007 và cao hơn gấp 3 lần so với đỉnh điểm năm 1998 với giá bán đạt mức 2.205$ /kg tại các khu phố buôn ngà voi ở Bắc Kinh.
Còn đối với sừng tê giác, giá cho 1 kg tại thị trường chợ đen ở Trung Quốc có thể lên đến 66.139 $ - cao hơn cả giá vàng hay bạch kim [19]. Điều này đã dẫn đến nạn “tàn sát” các loài tê giác, voi và hổ trên quy mô toàn thế giới. Nam Phi là quốc gia có số lượng tê giác nhiều nhất trên thế giới, chiếm 83% tổng số lượng của loài này ở châu Phi và 73% của Thế giới. Đây cũng chính là khu vực nóng nhất về nạn săn trộm tê giác để lấy sừng, với số lượng tê giác bị giết hại trái 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com phép tăng đột biến, khoảng hơn 3450 cá thể chỉ trong vòng 8 năm từ 2007 – 8/2014 (Hình 1)1.
1200 1004 1000 787 800 668 600 448 400 333 200 122 83 13 0 2007 2008 2009 2010 2011 2012 2013 Aug-14 Hình 1. Số lượng tê giác bị săn trộm tại Nam Phi từ 2007 - 8/2014 (Nguồn: Bộ Tài nguyên nước và các vấn đề về môi trường Nam Phi tháng 9/2014) Tại thị trường châu Âu, trong năm 2011, tổng giá trị nhập khẩu của các loài động vật (và sản phẩm từ chúng) được quy định trong danh sách của CITES ước tính đạt khoảng 499 triệu euro chủ yếu là các sản phẩm từ da các loài bò sát và da thuộc. Theo Europol (European Unions Law Enforcement Agencies), vai trò của các tổ chức tội phạm buôn bán ĐVHD tại khu vực châu Âu đang có xu hướng gia tăng do mức lợi nhuận cao, khả năng bị phát hiện thấp cũng như các án phạt còn nhẹ. Châu Âu vừa là thị trường quan trọng vừa là nguồn cung cấp các sản phẩm cho bọn buôn lậu các loài ĐVHD quý hiếm.
Ngà voi và sừng tê giác thường bị săn trộm ở châu Phi hoặc đánh cắp tại châu Âu do nhu cầu rất lớn, đặc biệt từ các khách hàng châu Á. Ngoài ra, châu Âu cũng được xem là thị trường lớn nhất thế giới đối với các loại hải 1 Số liệu của Bộ Tài nguyên nước và các vấn đề về môi trường Nam Phi cung cấp tại Hội thảo Tăng cường hợp tác về bảo tồn đa dạng sinh học giữa Bộ Tài nguyên và Môi trường Việt Nam với Bộ Tài nguyên nước và các vấn đề về môi trường Nam Phi tại Hà Nội, tháng 9/2014 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com sản, ước tính khoảng giá trị khoảng 18,6 tỷ euro trong năm 2011. Các nước nhập khẩu chính là Tây Ban Nha, Đức, Thụy Điển và Ý [26]. Một nghiên cứu trước đó của Engler và Jones vào năm 2007 [17] cũng cho thấy khu vực liên minh châu Âu đứng đầu thế giới về giá trị nhập khẩu sản phẩm động, thực vật hoang dã (bao gồm cả gỗ và hải sản).
Năm 2005, tổng giá trị nhập khẩu hợp pháp các sản phẩm ĐVHD ước tính khoảng 93 triệu Euro và khoảng 2,5 tỷ Euro nếu tính cả gỗ và hải sản (Bảng 1). Ước tính giá trị thương mại ĐVHD toàn thế giới và riêng châu Âu năm 2005 (Nguồn: TRAFFIC tổng hợp từ số liệu của UN Comtrade và FAOSTAT, 2006) Tổng giá trị ước tính trên Tổng giá trị ước tính Sản phẩm toàn cầu tại thị trường châu Âu (Đơn vị tính: EUR) (Đơn vị tính: EUR) Động vật sống Linh trưởng 75 triệu 15 triệu Chim cảnh 38 triệu 7 triệu Chim săn mồi 5 triệu 0,2 triệu Các loài bò sát 31 triệu 89 triệu (Bao gồm rùa và rắn) Cá cảnh 257 triệu 89 triệu Sản phẩm ĐVHD cho mục đích thời trang/ đồ trang trí Lông thú và các sản phẩm từ 4 tỷ 494 triệu lông thú Da bò sát 255 triệu 100 triệu San hô trang trí 85 triệu 15 triệu Ngọc trai tự nhiên 57 triệu 12 triệu Sản phẩm ĐVHD cho mục đích thực phẩm (bao gồm các loại hải sản) Thịt thú rừng 365 triệu 126 triệu Ếch 40 triệu 16 triệu Ốc gạo 60 triệu 19 triệu Khu vực Đông Á và Đông Nam Á, có lẽ là khu vực mang nhiều thách thức đối với việc quản lý các hoạt động buôn bán sản phẩm ĐVHD hơn bất kỳ đâu trên thế giới. Do những nét đặc thù về truyền thống văn hóa, chính trị và đa dạng tôn giáo, có 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nhiều yếu tố khiến cho khu vực này trở thành một thị trường tiêu thụ và buôn bán ĐVHD trái phép cực lớn. Các sản phẩm ĐVHD thường được sử dụng cho các mục đích: các bài thuốc cổ truyền, vật nuôi, thực phẩm, sản phẩm thời trang/ đồ trang sức/ trang trí hoặc được coi như một dạng sản phẩm xa xỉ để chứng tỏ sự giàu có [25].
Mạng lưới buôn bán này không chỉ gói gọn trong phạm vi từng nước mà còn có quan hệ mật thiết tới thị trường châu Âu và Mỹ. Trong nghiên cứu “An overview of international wildlife trade from Southeast Asia” của Nijman, kết quả cho thấy trong giai đoạn 1998-2007, khoảng 35 triệu cá thể ĐVHD là những loài được quy định trong danh sách của CITES đã được xuất khẩu từ các quốc gia ở khu vực Đông Á, trong số này có đến 30 triệu cá thể có nguồn gốc từ tự nhiên và chỉ khoảng 4,5 triệu cá thể là có nguồn gốc từ gây nuôi. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, Trung Quốc chính là điểm đến cuối cùng lớn nhất của các sản phẩm ĐVHD; Singapore và Malaysia cũng là thị trường tiêu thụ và chế biến (sau đó tái xuất khẩu) các sản phẩm ĐVHD có nguốn gốc tự nhiên như tê tê, các loài chim và da, lông thú [28]. Bảng 2 biểu thị các quốc gia xuất khẩu chính các sản phẩm ĐVHD có nguồn gốc tự nhiên trong giai đoạn 1998 - 2007 ở khu vực Đông Á.
Các loài bướm, cá ngựa và san hô chiếm đến 90% tổng số cá thể bị xuất khẩu (Thái Lan đứng đầu về các loài cá ngựa, Malaysia về các loài bướm và Indonesia về san hô). Tính trên trổng thể tất cả các sản phẩm ĐVHD, nhóm 4 quốc gia Malaysia, Việt Nam, Indonesia và Trung Quốc là những quốc gia chính xuất khẩu các sản phẩm ĐVHD có nguồn gốc từ tự nhiên. Ở chiều hướng ngược lại, châu Âu và Nhật Bản là những thị trường nhập khẩu lớn nhất (Bảng 2). Các quốc gia xuất, nhập khẩu sản phẩm ĐVHD lớn nhất tại khu vực Đông Á và trên thế giới (Nguồn: Vincent Nijman, 2010) Nhóm sản Tổng số cá Nước xuất Nước nhập phẩm Tỷ lệ % Tỷ lệ % thể ước tính khẩu khẩu ĐVHD Malaysia 98 Mỹ 70 Bướm 13 x 103 Trung Quốc 2 Châu Âu 10 Canada 8 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Thái Lan 94 Hồng Kông 57 Cá ngựa 16 x 106 Việt Nam 1 Đài Loan 24 Trung Quốc 14 Các loài cá Malaysia 57 Hồng Kông 93 30 x 103 khác Indonesia 38 Trung Quốc 2 Indonesia 62 Singapore 57 Bò sát 14 x 106 Malaysia 36 Châu Âu 12 Nhật Bản 7 Trung Quốc 77 Châu Âu 66 Thú 12 x 104 Malaysia 20 Singapore 20 Việt Nam 2 Nhật Bản 19 Trung Quốc 61 Châu Âu 63 Chim 27 x 104 Việt Nam 17 Nhật Bản 19 Malaysia 14 Malaysia 10 Indonesia 92 Mỹ 61 San hô 17 x 106 Việt Nam 7 Châu Âu 21 miếng Nhật Bản 7 Có thể thấy, buôn bán ĐVHD hiện đang là một thách thức mang tính toàn cầu chứ không của riêng bất cứ quốc gia nào.
Trong mạng lưới buôn bán và tiêu thụ ĐVHD trên thế giới, Việt Nam hiện được biết đến với 3 vai trò chính: là quốc gia xuất khẩu, là thị trường tiêu thụ và là điểm trung chuyển. Tình trạng tiêu thụ và buôn bán ĐVHD ở Việt Nam có những đặc điểm chính như thế nào sẽ được nêu rõ hơn ở phần tiếp theo. Ở Việt Nam Hoạt động buôn bán ĐVHD ở Việt Nam bắt đầu phát triển mạnh vào cuối thập kỷ 80 của thế kỷ 20, khi việc giao lưu buôn bán quốc tế ở Việt Nam được mở cửa. Trong thời gian gần đây, hoạt động buôn bán ĐVHD vẫn diễn ra thường xuyên và có xu hướng mở rộng.
Sự phát triển của hoạt động buôn bán thể hiện qua số lượng giấy phép CITES tăng theo năm. Đỗ Kim Chung (2003) ước tính khối lượng động, thực vật hoang dã cung cấp cho thị trường ở Việt Nam khoảng 3.400 tấn, trong đó lượng 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com gây nuôi chiếm khoảng 70%, khai thác bất hợp pháp khoảng 18%, và từ nguồn nhập khẩu khoảng 12% [4]. Các nghiên cứu ước tính rằng các vụ tịch thu buôn bán ĐVHD bất hợp pháp chỉ chiếm khoảng 5 - 20% con số thực tế [3]. Từ đó có thể thấy rằng, mỗi năm hàng ngàn tấn ĐVHD và hàng trăm ngàn cá thể bị tiêu thụ trong nước hoặc buôn lậu ra nước ngoài.
Việt Nam đã nhanh chóng chuyển đổi từ một nước xuất khẩu (chủ yếu là sang thị trường Trung Quốc) thành một thị trường lớn nhập khẩu và tiêu thụ ĐVHD.