Chương I: Cơ sở lý luận về tiền lương Chương II: Thực trạng chính sách tiền lương tại công ty Cổ phần Quản lý đầu tư và phát triển đô thị Việt Nam Chương III: Giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách tiền lương tại công ty Cổ phần Quản lý đầu tư và phát triển đô thị Việt Nam Nguyễn Thu Hương Lớp: QTDNA – K12 Khóa luận tốt nghiệp 3 Học viện Ngân hàng CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TIỀN LƢƠNG 1. Khái niệm tiền lương Tiền lương là một phạm trù kinh tế đã được nghiên cứu từ rất lâu vì vậy cho đến nay, các lý thuyết và quan điểm về tiền lương đã trở thành hệ thống bài bản, khá phong phú và tương đối đầy đủ trong kinh tế học thế giới nói chung và kinh tế học Việt Nam nói riêng. Từ đó cho người đọc, người nghiên cứu có cái nhìn và cách hiểu chính xác hơn, toàn diện hơn về tiền lương - một trong những lĩnh vực quan trọng hành đầu của bất kỳ nền kinh tế nào trên thế giới. Trên thực tế, khái niệm và cơ cấu tiền lương rất đa dạng ở các nước trên thế giới.
Ở Pháp “Sự trả công được hiểu là tiền lương, hoặc lương bổng cơ bản, bình thường hay tối thiểu và mọi thứ lợi ích, được trả trực tiếp hay gián tiếp bằng tiền hay hiện vậy, mà người sử dụng lao động trả cho người lao động theo việc làm của người lao động”. Ở Nhật Bản: Tiền lương là thù lao bằng tiền mặt và hiện vật trả cho người làm công một cách đều đặn, cho thời gian làm việc hoặc cho lao động thực tế, cùng với thù lao cho khoảng thời gian không làm việc, như là nghỉ mát hàng năm, các ngày nghỉ có hưởng lương hoặc nghỉ lễ. Tiền lương không tính đến những đóng góp của người thuê lao động đối với bảo hiểm xã hội và quỹ hưu trí cho người lao động và phúc lợi mà người lao động được hưởng nhờ có những chính sách này. Khoản tiền được trả khi nghỉ việc hoặc chấm dứt hợp đồng lao động cũng không được coi là tiền lương.
Theo tổ chức lao đồng quốc tế (ILO), tiền lương là sự trả công hoặc sự thu nhập , bất luận tên gọi, cách tính thế nào, mà có thể biểu hiện bằng tiền mặt được ấn định bằng thỏa thuân giữa người sử dụng lao động và NLĐ, hoặc bằng pháp luật, pháp quy quốc gia, do người sử dụng lao động trả cho NLĐ theo một hợp đồng lao động viết hay bằng miệng, cho một công việc đã được thực hiện hay sẽ phải làm. Nguyễn Thu Hương Lớp: QTDNA – K12 Khóa luận tốt nghiệp 4 Học viện Ngân hàng Ở Việt nam cũng có nhiều khái niệm khác nhau về tiền lương. Một số khái niệm về tiền lương có thể được nêu ra như sau: “Tiền lương là giá cả sức lao động được hình thành qua thỏa thuận giữa người sử dụng sức lao động và người lao động phù hợp với quan hệ cung cầu sức lao động trong nền kinh tế thị trường”. “Tiền lương là khoản tiền mà người lao động nhận được khi họ đã hoàn thành hoặc sẽ hoàn thành một công việc nào đó , mà công việc đó không bị pháp luật ngăn cấm ”.
“ Tiền lương là khoản thu nhập mang tính thường xuyên mà nhân viên được hưởng từ công việc ” “ Tiền lương được hiểu là số lượng tiền tệ mà người sử dụng lao động trả cho người lao động khi họ hoàn thành công việc theo chức năng , nhiệm vụ được pháp luật quy định hoặc hai bên đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động”. Theo quy định trong pháp luật lao động Việt Nam thì :” Tiền lương của NLĐ do hai bên thỏa thuận trong hợp đồng lao động, và được trả theo năng suất lao động, chất lượng và hiệu quả công việc. Mức lương của người lao động không được thấp hơn mức lương tối thiểu do Nhà nước quy định. Tóm lại, tiền lương được hiểu là số tiền mà người sử dụng lao động trả cho NLĐ căn cứ vào năng suất, chất lượng, hiệu quả công việc và điều kiện lao động thực tế của người lao động theo quy định của Pháp luật hoặc theo sự thỏa thuận hợp pháp của hai bên trong hợp đồng lao động.
Như vậy cần có sự phân biệt giữa tiền lương và tiền công để tránh sự nhầm lẫn cơ bản khi đủ trả cho người lao động. Tiền lương được trả một cách thường xuyên và ổn định, tiền công được trả theo khối lượng công việc hoặc thời gian lao động hoàn thành. Cụ thể, tiền công chỉ là một biểu hiện, một tên gọi khác của tiền lương. Tiền công gắn trực tiếp hơn với các quan hệ thỏa thuận mua bán sức lao động và thường được sử dụng trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh, dịch vụ, các hợp động dân sự thuê mướn lao động có thời hạn.
Khái niệm tiền công được sử dụng phổ biến trong những thỏa thuận thuê nhân công trên thị trường tự do và có thể gọi là giá công lao động. Từ các khái niệm trên cho thấy bản chất của tiền lương là giá cả sức lao động được hình thành trên cơ sở giá trị sức lao động. Tiền lương có những chức năng sau đây: + Chức năng thước đo giá trị sức lao động : Tiền lương biểu thị giá cả sức lao động có nghĩa là nó là thước đo để xác định mức tiền công các loại lao động, là căn cứ để thuê mướn lao động, là cơ sở để xác định đơn giá sản phẩm. + Chức năng tái sản xuất sức lao động : Thu nhập của người lao động dưới hình thức tiền lương được sử dụng một phần đáng kể vào việc tái sản xuất giản đơn sức lao động mà họ đã bỏ ra trong quá trình lao động nhằm mục đích duy trì năng lực làm việc lâu dài và có hiệu quả cho quá trình sau.
Tiền lương của người lao động là nguồn sống chủ yếu không chỉ của người lao động mà còn phải đảm bảo cuộc sống của các thành viên trong gia đình họ. Như vậy tiền lương cần phải bảo đảm cho nhu cầu tái sản xuất mở rộng cả về chiều sâu lẫn chiều rộng sức lao động. + Chức năng kích thích : Trả lương một cách hợp lý và khoa học sẽ là đòn bẩy quan trọng hữu ích nhằm kích thích người lao động làm việc một cách hiệu quả. + Chức năng tích lũy : Tiền lương trả cho người lao động phải đảm bảo duy trì được cuộc sống hàng ngày trong thời gian làm việc và còn dự phòng cho cuộc sống lâu dài khi họ hết khả năng lao động hay gặp rủi ro.
Ý nghĩa của tiền lương 1. Đối với người lao động 1. Đảm bảo đời sống vật chất và tinh thần cho người lao động Tiền lương có vai trò rất quan trọng trong việc đảm bảo đời sống vật chất và tinh thần cho người lao động cũng như gia đình họ. Bởi vì ở Việt Nam hiện nay, người lao động phải dành tới hơn 70% các khoản thu nhập kể trên cho các nhu cầu phục vụ sinh hoạt hàng ngày như ăn, mặc, ở, đi lại, học tập, vui chơi, giải trí.
Vì vậy, các khoản thu nhập này sẽ góp phần giúp họ mua sắm được các tư liệu tiêu dùng cũng như các dịch vụ cần thiết đảm bảo cho đời sống của họ diễn ra một cách bình thường. Nguyễn Thu Hương Lớp: QTDNA – K12 Khóa luận tốt nghiệp 6 Học viện Ngân hàng 1. Tái sản xuất sức lao động Trong bất kỳ xã hội nào thì tiền lương luôn thực hiện chức năng kinh tế xã hội cơ bản của nó là đảm bảo tái sản xuất sức lao động. Tiền lương nhận thoả đáng sẽ là động lực hình thành năng lực sáng tạo để làm tăng năng suất lao động, mặt khác khi năng suất lao động tăng thì lợi nhuận doanh nghiệp sẽ tăng, do đó nguồn phúc lợi của doanh nghiệp mà người lao động nhận được cũng sẽ lại tăng lên, nó là phần bổ sung thêm cho tiền lương, làm tăng thu nhập và tăng lợi ích cho cung ứng sức lao động lên nữa.
Tuy nhiên, mức độ tái sản xuất sức lao động cho người lao động trong mỗi chế độ là khác nhau. Người lao động tái sản xuất sức lao động của mình thông qua các tư liệu sinh hoạt nhận được từ việc sử dụng khoản tiền lương của họ. Tạo điều kiện cho người lao động học tập, phát triển bản thân Một ý nghĩa quan trọng tiếp theo của tiền lương là tạo điều kiện cho người lao động học tập, phát triển và nâng cao trình độ bản thân. Vì các khoản thu nhập kể trên giúp cho người lao động và gia đình họ có đủ điều kiện để sinh hoạt bình thường nên người lao động sẽ có cơ hội, thời gian và yên tâm hơn cho các công tác học tập, nâng cao trình độ cá nhân, giúp cho cá nhân họ không ngừng phát triển và có những thay đổi tích cực trong nhận thức, kinh nghiệm cũng như phương pháp làm việc.
Đối với doanh nghiệp 1. Đảm bảo cho quá trình sản xuất diện ra liên tục Tiền lương là nguồn thu nhập chính của mỗi gia đình , mỗi người lao động, chúng được chi 6ung cho các nhu cầu ăn, uống của người lao động sẽ đảm bảo cho họ có khả năng tái sản xuất sức lao động để tiếp tục cung cấp sức lao động này cho chủ sử dụng lao động. Chỉ khi đó, quá trình sản xuất của doanh nghiệp mới không thiếu đi nhân tố quan trọng nhất là sức lao động của người lao động và mới có đủ điều kiện để diễn ra bình thường. Quản lý và điều hòa lao động Trong hoạt động sản xuất kinh doanh, người sử dụng lao động bao giờ cũng đứng trước hai sức ép: chi phí hoạt động sản xuất và hiệu quả sản xuất kinh doanh.
Họ phải tìm cách giảm bớt mức tối thiểu về chi phí trong đó có chi phí Nguyễn Thu Hương Lớp: QTDNA – K12 Khóa luận tốt nghiệp 7 Học viện Ngân hàng tiền lương của NLĐ. Do vậy, hệ thống thang lương, bảng lương, cách thức trả lương đối với từng ngành phải phù hợp. Đó chính là công cụ để điều tiết lao động. Nó sẽ tạo ra một cơ cấu lao động hợp lý, một sự phân bổ lao động đồng đều trong phạm vi xã hội, góp phần vào sự ổn định của công ty nói riêng cũng như thị trường lao động nói chung.
Một biểu hiện nữa của điều hòa lao động là di chuyển lao động, nhất là những người có trình độ chuyên môn và tay nghề cao sang những khu vực và doanh nghiệp có mức lương hấp dẫn hơn.