Chương 1: Cơ sở lý luận về vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài và thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Chương 2: Thực trạng thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại tỉnh Quảng Ninh. Chương 3: Giải pháp tăng cường thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại tỉnh Quảng Ninh. 6 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP NƢỚC NGOÀI VÀ THU HÚT VỐN ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP NƢỚC NGOÀI VÀO ĐỊA PHƢƠNG 1.
Tổng quan về đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài 1. Khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (2008) đưa ra khái niệm: “Đầu tư trực tiếp nước ngoài phản ánh mục tiêu của một thực thể cư trú tại một nền kinh tế (nhà đầu tư trực tiếp) muốn có được một mối quan tâm (lợi ích) lâu dài trong một thực thể cư trú tại một nền kinh tế khác nền kinh tế của nhà đầu tư (doanh nghiệp đầu tư trực tiếp). Mối quan tâm (lợi ích lâu dài) ngụ ý rằng: tồn tại một mối quan hệ lâu dài giữa nhà đầu tư trực tiếp với doanh nghiệp và một mức độ ảnh hưởng đáng kể trong việc quản lý doanh nghiệp đó. Đầu tư trực tiếp liên quan đến cả giao dịch ban đầu giữa thực thể và mọi giao dịch vốn tiếp theo giữa chúng và giữa các công ty con, dù có tư cách pháp nhân hay không có tư cách pháp nhân”.
Một nhà đầu tư trực tiếp là một cá nhân, một doanh nghiệp tư nhân hoặc doanh nghiệp nhà nước có tư cách pháp nhân hoặc không có tư cách pháp nhân, một chính phủ, một nhóm cá nhân có liên quan hoặc một nhóm các doanh nghiệp có tư cách pháp nhân và/hoặc không có tư cách pháp nhân có liên quan, trong đó một nhà đầu tư trực tiếp sở hữu 10% hoặc hơn cổ phiếu thường hoặc quyền biểu quyết của một doanh nghiệp có tư cách pháp nhân hoặc tương đương của một doanh nghiệp không có tư cách pháp nhân. Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1996 tại Điều 2 đưa ra khái niệm: Đầu tư ngước ngoài là việc các tổ chức, cá nhân nước ngoài trực tiếp đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền nước ngoài hoặc bất kỳ tài sản nào được Chính phủ Việt Nam chấp thuận để hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hoặc thành lập xí nghiệp liên doanh hoặc xí nghiệp 100% vốn nước ngoài theo quy định của Luật này. 7 Theo Luật Đầu tư năm 2005 tại Điều 3 thì: “Đầu tư nước ngoài là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền và các tài sản hợp pháp khác để tiến hành hoạt động đầu tư” và “Đầu tư trực tiếp là hình thức đầu tư do nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư và tham gia quản lý hoạt động đầu tư”. Từ các định nghĩa trên, ta có thể hiểu khi một nhà đầu tư có quyền kiểm soát đối với một thực thể nước ngoài, thường là một doanh nghiệp được nhà đầu tư thành lập hay mua lại, hoạt động đầu tư đó được hiểu là đầu tư trực tiếp nước ngoài.
Việc một nhà đầu tư nước ngoài kiểm soát một công ty là trung tâm của khái niệm FDI, giúp phân biệt FDI với các dạng đầu tư quốc tế khác. Quyền kiểm soát các hoạt động sản xuất kinh doanh chính là lợi thế mà các nhà đầu tư trực tiếp có được so với các nhà đầu tư gián tiếp nước ngoài. Tuy nhiên, quyền kiểm soát kinh doanh lại chịu ảnh hưởng nhất định bởi tỷ lệ sở hữu cổ phần tổi thiểu hay quyền sở hữu khống chế của các nhà đầu tư nước ngoài. Tỷ lệ sở hữu cổ phần tối thiểu của các nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài là yếu tố quyết định đến tính chất trực tiếp của các nhà đầu tư nước ngoài trong việc đưa ra các quyết định đầu tư và quản trị doanh nghiệp, được quy định bởi luật pháp của từng nước.
Đối với nhiều nước trong khu vực, chủ đầu tư nước ngoài chỉ được thành lập doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài trong một số lĩnh vực nhất định và chỉ được tham gia liên doanh với số vốn cổ phần của bên nước ngoài nhỏ hơn 49%; 51% cổ phần còn lại do nước chủ nhà nắm giữ. Trong khi đó, Luật Đầu tư nước ngoài của Việt Nam cho phép rộng rãi hơn đối với hình thức 100% vốn nước ngoài và quy định bên nước ngoài phải góp tối thiểu 30% vốn pháp định của dự án. Như vậy, qua định nghĩa trên, có thể đi đến kết luận: FDI là quá trình di chuyển vốn quốc tế dài hạn, nhà đầu tư nước ngoài tiến hành đầu tư một tỷ lệ vốn nhất định bằng tiền hoặc các tài sản khác và trực tiếp tham gia quản lý sản xuất kinh doanh có liên quan tới vốn mà họ đầu tư, nhằm thu được những lợi ích lâu dài. Đặc điểm của đầu tư trực tiếp nước ngoài Ngoài ra, nó còn có thêm một số đặc điểm quan trọng khác so với các hình thức đầu tư khác như sau: 8 Thứ nhất, FDI là loại hình chu chuyển vốn quốc tế trong đó chủ sở hữu vốn đầu tư là người nước ngoài, tiến hành hoạt động đầu tư ở nước ngoài, có nghĩa là doanh nghiệp tiếp nhận vốn FDI không thuộc quốc gia của chủ đầu tư (Alfaro, 2003).
Đặc điểm này có liên quan đến các khía cạnh về quốc tịch, luật pháp, ngôn ngữ, phong tục tập quán là các yếu tố làm tăng thêm tính rủi ro và chi phí đầu tư của các chủ đầu tư nước ngoài. Thứ hai, FDI gắn liền với việc di chuyển các yếu tố đầu tư ra khỏi biên giới quốc gia. Các yếu tố đầu tư có thể là tài sản hữu hình, tài sản vô hình (quyền sở hữu trí tuệ, bí quyết và kinh nghiệm quản lý) hoặc tài sản tài chính (cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu, giấy ghi nợ) (Kongruang, 2002). Ngoài ra, hoạt động FDI còn bao gồm cả hoạt động chuyển giao công nghệ, kinh nghiệm quản lý, cơ chế bảo hộ quyền sở hữu của nhà đầu tư.
Do đó, đối với từng loại tài sản khác nhau đòi hỏi nước tiếp nhận đầu tư phải có những cơ chế, chính sách bảo hộ quyền của chủ đầu tư sao cho phù hợp với tính chất và đặc điểm của từng loại. Thứ ba, FDI được thực hiện thông qua việc bỏ vốn thành lập các doanh nghiệp mới ở nước ngoài, mua lại từng phần hoặc toàn bộ doanh nghiệp đang hoạt động hoặc tiến hành các hoạt động hợp nhất và chuyển nhượng doanh nghiệp (Wilson và Cacho, 2007). Điều này cho thấy tính đa dạng của các hình thức và phương thức đầu tư FDI. Thứ tư, quyền quản lý doanh nghiệp FDI phụ thuộc vào mức độ góp vốn của chủ đầu tư vào vốn pháp định.
Tỷ lệ sở hữu vốn khống chế này do pháp luật của từng nước quy định và là yếu tố quyết định tính chất trực tiếp trong việc đưa ra các quyết định đầu tư và quản trị doanh nghiệp của các nhà đầu tư nước ngoài (Das, 2007). Theo đó, FDI sẽ là chủ sở hữu hoàn toàn hoặc đồng chủ sở hữu với một tỷ lệ góp vốn nhất định, đủ mức khống chế và trực tiếp tham gia quản lý hoạt động của doanh nghiệp. Trong trường hợp góp 100% vốn pháp định, nhà đầu tư nước ngoài có toàn quyền quyết định hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Việc đảm bảo tỷ lệ sở hữu ở mức khống chế còn là cơ sở để các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trở thành những chi nhánh của các công ty ở nước đầu tư.
Đây là yếu tố làm tăng tính chất toàn cầu của mạng lưới các công ty đi đầu và tạo cơ sở để các 9 công ty đó thực hiện hoạt động chu chuyển vốn, hàng hoá trong nội bộ công ty, tránh được hàng rào thuế quan, tiết kiệm chi phí giao dịch. Thứ năm, FDI gắn liền với các hoạt động kinh doanh của các công ty xuyên quốc gia (TNCs). Đây là những tập đoàn có hệ thống các chi nhánh sản xuất ở nước ngoài, có tiềm lực lớn về vốn, công nghệ, nhãn hiệu sản phẩm có uy tín và danh tiếng trên toàn cầu; đội ngũ các nhà quản lý có trình độ cao, có khả năng điều hành các hoạt động sản xuất và phân phối trên toàn cầu, có năng lực cạnh tranh cao. Các nước đang phát triển có thể tiếp cận với các công ty xuyên quốc gia thông qua hoạt động FDI để thu hút nguồn vốn lớn, công nghệ nguồn, công nghệ hiện đại, trình độ quản lý, cải thiện năng lực cạnh tranh,… Thứ sáu, FDI là loại hình đầu tư trực tiếp và dài hạn.
Do đó, vốn FDI là nguồn vốn tương đối ổn định, bổ sung quan trọng cho vốn đầu tư trong nước ở các nước đang phát triển (Jenkins, 2006). FDI không phải là vốn vay nên nước tiếp nhận vốn không phải lo trả nợ và FDI cũng ít chịu sự chi phối, ràng buộc bởi mối quan hệ chính trị giữa nước đầu tư và nước tiếp nhận đầu tư như vốn ODA. Hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài Theo Luật Đầu tư năm 2020, hoạt động đầu tư nước ngoài có thể diễn ra dưới các hình thức sau: Thứ nhất, thành lập tổ chức kinh tế 100% vốn của nhà đầu tƣ nƣớc ngoài: Hình thức doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài là hình thức truyền thống và phổ biến của FDI. Với hình thức này, các nhà đầu tư, cùng với việc chú trọng khai thác những lợi thế của địa điểm đầu tư mới, đã nỗ lực tìm cách áp dụng các tiến bộ khoa học công nghệ, kinh nghiệm quản lý trong hoạt động kinh doanh để đạt hiệu quả cao nhất.
Hình thức này phổ biến ở quy mô đầu tư nhỏ nhưng cũng rất được các nhà đầu tư ưa thích đối với các dự án quy mô lớn. Hiện nay, các công ty xuyên quốc gia thường đầu tư theo hình thức doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài và họ thường thành lập một công ty con của công ty mẹ xuyên quốc gia. Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài thuộc sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài nhưng phải chịu sự kiểm soát của pháp luật nước sở tại (nước nhận đầu tư). 10 Là một pháp nhân kinh tế của nước sở tại, doanh nghiệp phải được đầu tư, thành lập và chịu sự quản lý nhà nước của nước sở tại.
Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài là doanh nghiệp thuộc quyền sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài tại nước chủ nhà, nhà đầu tư phải tự quản lý, tự chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh. Về hình thức pháp lý, theo Luật Doanh nghiệp 2020, có các loại hình công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần.