CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC NGUỒN TÀI TRỢ CHO PHÁT TRIỂN CÂY THANH LONG TỈNH BÌNH THUẬN 1.1 Các nguồn tài trợ phát triển ngành nông nghiệp tỉnh Bình Thuận 1.1 Nguồn vốn trong nước .1 Nguồn vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước, địa phương Vốn ngân sách nhà nước (NSNN) hay tiết kiệm của NSNN là số chênh lệch dương giữa tổng các khỏan thu mang tính không hoàn lại (chủ yếu là thuế) với tổng chi tiêu dùng của ngân sách. Tiết kiệm ở khâu tài chính này sẽ hình thành nên nguồn vốn đầu tư của nhà nước. Đối với các nước đang phát triển, do tiết kiệm của nền kinh tế bị hạn chế, nên để duy trì sự tăng trưởng kinh tế và mở rộng đầu tư đòi hỏi nhà nước phải gia tăng tiết kiệm NSNN trên cơ sở kết hợp hoàn thiện chính sách thuế và chi tiêu. Một trong các chức năng quan trọng của nhà nước hiện tại là chức năng tổ chức kinh tế.
Để thực hiện chức năng này nhà nước sử dụng một trong những công cụ tài chính vĩ mô là NSNN để phối hợp các nguồn tài chính cho sự phát triển các ngành kinh tế. Chi đầu tư phát triển được cấp phát chủ yếu từ ngân sách trung ương và một phần đáng kể từ ngân sách địa phương. Chi đầu tư phát triển bao gồm: chi đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội; chi đầu tư và hỗ trợ vốn cho các doanh nghiệp nhà nước; chi góp vốn cổ phần, vốn liên doanh vào các doanh nghiệp; chi cho quỹ hỗ trợ đầu tư quốc gia và các quỹ hỗ trợ phát triển; chi dự trữ nhà nước và chi trả nợ gốc tiền do chính phủ vay. Trong tổng số chi tài chính của nhà nước cho đầu tư phát triển thì khoản chi đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội là khoản tài chính được đầu tư cho các chương trình phát triển kinh tế có tính TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 chất hình thành thế cân đối của nền kinh tế, tạo ra tiền đề kích thích quá trình vận động vốn của các doanh nghiệp và tư nhân nhằm mục đích tăng trưởng kinh tế.
Chi đầu tư xây dựng cơ bản từ nguồn tài chính của nhà nước vào cũng cố phát triển cơ sở hạ tầng của nền kinh tế (chi đầu tư cho cầu cống, đường sá, bến cảng, hệ thống thủy lợi, …), các ngành công nghiệp cơ bản, các công trình kinh tế có tính chiến lược, các công trình trọng điểm phục vụ phát triển văn hóa xã hội, phúc lợi công cộng. Sự tham gia của nhà nước vào các lĩnh vực này có ý nghĩa rất quan trọng đối với sự phát triển kinh tế xã hội vì nó nhằm kích đầu tư, giảm chi phí sản xuất, mở rộng thị trường, tăng cường khả năng cạnh tranh đồng thời tạo ra các trung tâm kinh tế. Như vậy, vốn đầu tư của nhà nước là một phần tiết kiệm của ngân sách để chi cho đầu tư phát triển. Nguồn vốn này phụ thuộc vào khả năng tập trung thu nhập quốc dân vào ngân sách và quy mô chi tiêu dùng của nhà nước.
Đây là nguồn vốn đầu tư quan trọng, ổn định và có tính định hướng cao đối với các nguồn vốn đầu tư khác. Vốn cấp phát thuộc NSNN được sử dụng để đầu tư theo kế hoạch nhà nước đối với các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế, các dự án trồng rừng đầu nguồn, rừng phòng hộ, vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên, các dự án công trình văn hóa xã hội phúc lợi công cộng, quản lý nhà nước, khoa học kỷ thuật, an ninh quốc phòng và các dự án trọng điểm của nhà nước do chính phủ quyết định mà không có khả năng trực tiếp thu hồi vốn. Vốn tín dụng ưu đãi thuộc NSNN dùng để chi đầu tư đối với các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế, các cơ sở sản xuất tạo việc làm, các dự án đầu tư trọng điểm của nhà nước trong từng thời kỳ và một số dự án khác có khả năng thu hồi vốn đã được xác định trong kế hoạch đầu tư của nhà nước. Tại Bình Thuận, Vốn đầu tư phát triển các ngành nông, lâm nghiệp và thuỷ sản trên địa bàn tỉnh năm 2009 theo giá thực tế đạt 10.387,665 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 16,7% trong tổng vốn đầu tư phát triển toàn tỉnh.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.1: vốn đầu tư thực hiện theo giá thực tế của các ngành trên địa bàn giai đoạn 2005 -2009 Đvt: tỷ đồng 2006 2007 2008 2009 Tổng các ngành 4.387,665 Riêng: ngành nông, lâm, 679,792 751,335 1.735,737 thuỷ sản Cơ cấu ngành 16,19% 15,5% 16,4% 16,7% (Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Bình Thuận năm 2009) 1.2 Nguồn vốn đầu tư từ các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế: Vốn đầu tư của các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế là khoản tiết kiệm của các doanh nghiệp (doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp tư nhân), các tổ chức kinh tế (gọi chung là các công ty). Khoản tiết kiệm này được hình thành từ lợi nhuận đạt được trong kinh doanh dành bổ sung vốn kinh doanh (còn gọi là lợi nhuận không chia) và quỹ khấu hao tài sản cố định của công ty. Tiết kiệm của công ty là một bộ phận quan trọng của vốn đầu tư nhằm mở rộng quy mô kinh doanh, đổi mới trang thiết bị, đổi mới công nghệ, nâng cao năng lực cạnh tranh hoặc đầu tư thành lập doanh nghiệp mới góp phần phát triển kinh tế. Tiết kiệm doanh nghiệp là số lãi ròng có được từ kết quả kinh doanh.
Đây là nguồn tiết kiệm cơ bản để các doanh nghiệp tạo vốn cho đầu tư phát triển theo chiều rộng và chiều sâu. Quy mô tiết kiệm của các doanh nghiệp phụ thuộc vào các yếu tố như hiệu quả kinh doanh, chính sách thuế, sự ổn định kinh tế vĩ mô, … 1.3 Nguồn vốn đầu tư từ kinh tế tư nhân và dân cư: Nguồn vốn trong dân cư là khoản tiết kiệm của các hộ gia đình và các tổ chức đoàn thể xã hội, khoản tiết kiệm này phụ thuộc vào thu nhập và chi tiêu của các hộ gia đình. Đây là khoản tiền còn lại của thu nhập sau khi đã đóng thuế và sử dụng cho mục đích tiêu dùng. Quy mô tiết kiệm trong khu TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 vực dân cư chịu ảnh hưởng bởi các nhân tố trực tiếp như mức thu nhập bình quân đầu người, chính sách lãi suất, chính sách thuế, trình độ phát triển kinh tế, sự ổn định kinh tế vĩ mô, … Tiết kiệm khu vực dân cư giữ vai trò quan trọng trong hệ thống tài chính do có khả năng chuyển hóa nhanh chóng thành các nguồn vốn đầu tư thông qua các hình thức như gởi tiết kiệm vào các tổ chức tín dụng, trực tiếp đầu tư kinh doanh, … Tiết kiệm dân cư cũng dễ dàng chuyển thành nguồn vốn đầu tư của nhà nước bằng cách mua trái phiếu chính phủ hoặc chuyển thành nguồn vốn đầu tư của doanh nghiệp qua việc mua trái phiếu, cổ phiếu của các công ty phát hành.4 Nguồn vốn vay từ ngân hàng (vốn tín dụng): Tín dụng được xem là chiếc cầu nối giữa các nguồn cung cầu về vốn tiền tệ trong nền kinh tế bằng việc huy động các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi từ các cá nhân, các tổ chức kinh tế để bổ sung kịp thời cho những doanh nghiệp, cá nhân, kể cả ngân sách đang gặp thiếu hụt về vốn, trên nguyên tắc có hoàn trả.
Các tổ chức tín dụng góp phần quan trọng trong việc điều tiết các nguồn vốn tạo điều kiện cho quá trình sản xuất kinh doanh không bị gián đoạn; đồng thời còn giúp cho các doanh nghiệp bổ sung vốn đầu tư để mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh, đổi mới công nghệ, cải tiến quản lý, từ đó thúc đẩy kinh tế phát triển. Tín dụng bao gồm tín dụng nhà nước và tín dụng ngân hàng. Tín dụng ngân hàng là công cụ thu hút vốn nhàn rỗi của các doanh nghiệp và dân cư để cho vay. Các ngân hàng thương mại và các tổ chức trung gian tín dụng bằng việc cho vay những nguồn tiền đã huy động được để cung cấp cho nền kinh tế một khoản vốn đầu tư cần thiết để phát triển.
Bên cạnh việc thực hiện nghiệp vụ truyền thống là vay và cho vay, các ngân hàng còn thực hiện nghiệp vụ đầu tư vốn dưới các hình thức đầu tư trực tiếp bằng vốn TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 tự có; hoặc đầu tư gián tiếp bằng sử dụng các nguồn vốn huy động có thời hạn. Nhằm phục vụ cho việc trồng, thu hoạch và tiêu thụ Thanh long trong toàn tỉnh, các ngân hàng tại tỉnh Bình Thuận đã tích cực cho nông dân, các cơ sở, các doanh nghiệp trồng, thu mua và xuất khẩu Thanh long vay để đầu tư phát triển Thanh long. Doanh số tín dụng cho vay ngắn hạn và trung hạn của ngân hàng NN&PTNT Bình Thuận cho ngành trồng trọt và chăn nuôi trên địa bàn tỉnh Bảng 1.2: tình hình cho vay phục vụ cho trồng trọt và chăn nuôi trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2006 – 2009 Đvt: triệu đồng Cho vay Dư nợ Số hộ Ngắn hạn Trung hạn Năm 2006 1.5 Nguồn vốn hợp tác xã Toàn tỉnh hiện nay có 3 hợp tác xã (HTX) sản xuất Thanh long đó là HTX sản xuất Thanh long Hàm Minh đã đầu tư sản xuất 31,7 ha Thanh long chất lượng cao đạt tiêu chuẩn EureGap, GlobalGap; HTX dịch vụ Thanh long Hữu cơ Phú Hội đầu tư sản xuất 52,08 ha và HTX Thanh long Hàm Hiệp đã đầu tư sản 31,75 ha Thanh long.2 Nguồn vốn nước ngoài 1.1 Nguồn đầu tư trực tiếp của nước ngoài (FDI: Foreign Direct Investment Nguồn vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài là nguồn vốn do các nhà đầu tư nước ngoài đem vốn vào một nước để đầu tư trực tiếp bằng việc tạo ra những doanh nghiệp. Nguồn vốn FDI trong những thập kỷ qua tăng rất nhanh, TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 đã và đang trở thành hình thức huy động vốn nước ngoài phổ biến của nhiều nước, tạo nên sự cạnh tranh gay gắt giữa các nước đang phát triển khi mà các luồng dịch chuyển vốn từ các nước phát triển đi tìm cơ hội đầu tư ở nước ngoài nhằm gia tăng khai thác về lợi thế so sánh.
Nguồn vốn FDI không chỉ đơn thuần đưa vốn ngoại tệ vào nước sở tại mà còn kèm theo chuyển giao công nghệ, trình độ quản lý tiên tiến và khả năng tiếp cận thì trường thế giới. Tiếp nhận FDI là lợi thế hiển nhiên mà thời đại tạo ra cho các nước đamg phát triển.