Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận và thực tiễn về môi trường thu hút FDI trong ngành nông nghiệp. Phương pháp nghiên cứu. Thực trạng môi trường thu hút FDI vào ngành nông nghiệp tại Việt Nam.
Một số giải pháp cải thiện môi trường thu hút vốn FDI vào ngành nông nghiệp tại Việt Nam. 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ MÔI TRƢỜNG THU HÚTFDI TRONG NGÀNH NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM 1. Tổng quan về tình hình nghiên cứu 1. Tổng quan về tình hình nghiên cứu 1.1Các nghiên cứu về lý thuyết đầu tư John Dunning, trong công trình nghiên cứu “The eclective paradigm of international production: a restatement and some extension”, Journal of International Business Studies, Spring 1988, đã khẳng định lại những quan điểm chủ yếu của ông về mô hình lý thuyết triết chung, được ông trình bày lần đầu tiên tại lễ trao giải Nobel năm 1976, đó là nỗ lực nhằm đưa ra một khung khổ toàn diện cho việc xác đ ịnh và đánh giát ầm quan trọng của các yếutốảnhhưởngtớiquyếtđịnhđầutưsảnxuấtranướcngoàicủacácdoanh nghiệp và sự tăng trưởng của hoạt động sản xuất này.
Theo lý thuyết triết chung, động lực thúc đẩy công ty đầu tư ra nước ngoài bao gồm ba điềukiện chủ yếu: lợi thế về sở hữu (O), lợi thế của nước chủ nhà (L) và lợi thế nội vi hóa (I). Sau khi đề cập đến một số khả năng mở rộng mô hình, tác giả khẳng định rằng mô hình OLI vẫn là một khung khổ phổ biến thiết thực cho việc giải thích và đánh giákhông ch ỉ lý do căn bản của sản xuất mà còn rất nhiều vấn đề tổ chức và tác động liên quan đến hoạt động của cácMNCs. Raymond Vernon trong bài “International investment and International trade in the product cycle” Quarterly journal of economics, 1966, pp.190-207, đãgiảithíchhiệntượngthươngmạivàđầutưquốctếtừchukỳpháttriểncủa sản phẩm, từ quyết định của công ty trên cơ sở chi phí và lợi nhuận và giải thích hiện tượng đầu tư quốc tế trong mối liên hệ chặt chẽ với đặc điểm của kết cấu thị trường, chuyển giao công nghệ và kiến thức quản lý. Các nghiên cứu về dòng vốn FDI nói chung “Báo cáo đầu tư thế giới (WIR)” phát hành hàng năm của Tổ chức ThươngmạivàpháttriểnLiênhợpquốc(UNCTAD).Báocáophântíchthực trạng,xuhướngvàtriểnvọngcủadòngvốnFDItrêntoàncầu,nhằmgiúpcác quốcgiathấyđượcvịtrí,vaitròcủamìnhtrongbứctranhtoàncảnhvềđầutư thếgiới,từđóxácđịnhđượcmụctiêu,chínhsáchphùhợpcủaquốcgiamình trong giai đoạn tiếp theo.
Tống Quốc Đạt (2005) với đề tài luận án tiến sĩ “Cơ cấu FDI theo ngành kinh tế ở Việt Nam” đã hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về FDI, nghiên cứu và phân tích một số mô hình về động thái cơ cấu ngành kinh tế. Tác giả đánh giá thực trạng FDI theo ngành kinh tế ở Việt Nam và xác định một số quan điểm, giải pháp chủ yếu thu hút FDI theo ngành kinh tế. Đỗ Hoàng Long (2008) với đề tài luận án tiến sĩ “Tác động của toàn cầu hóa kinh tế đối với dòng FDI vào Việt Nam”. Đề tài đã nghiên cứu tác động của quá trình toàn cầu hóa kinh tế đối với dòng FDI trên Thế giới vào Việt Nam.
Nghiêncứu xu hướng vận động của dòng FDI toàn cầu và một số giải pháp đối với việc thu hút FDI vào Việt Nam. Hoàng Thị Bích Loan (2008) với đề tài “Thu hút FDI của các công ty xuyên quốc gia vào Việt Nam”. Đề tài đi sâu phân tích thực trạng FDI của các …TNC vào nền kinh tế Việt Nam từ những năm 1990 đến nay, triển vọng, phương hướng và giải pháp chủ yếu để phát triển thu hút FDI của các TNC vào Việt Nam. Phan Hữu Thắng (2008) với sách chuyên khảo “20 năm đầu tư trực tiếp nước ngoài – nhìn lại và hướng tới”.
Những nghiên cứu, đánh giá tổng quan về tình hình chung cũng như đi sâu phân tích từng nội dung cụ thể qua 20 năm FDI tại Việt Nam: Nhìn lại quá trình hình thành và hoàn thiện pháp luật về đầu tư nước ngoài FDI và sự phát triển của Việt Nam, dòng vốn FDI vào các tỉnh thành, sự lựa chọn cần thiết cho thị trường tài chính Việt Nam, dòng vốn FDI thời kỳ hậu gia nhập WTO. Phạm Ngọc Anh, 2009 với đề tài “Sử dụng công cụ tài chính trong thu hút FDI tại Việt Nam”. Tác giả đã đi sâu vào phân tích những công cụ tài chính linh hoạt nhằm tạo môi trường đầu tư thuận lợi kích thích tăng cường dòng FDI vào Việt Nam trong những bối cảnh mới của nền kinh tế thế giới. Phùng Xuân Nhạ (2007) với sách chuyên khảo “Các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam” đã trình bày về cơ sở lý luận và thực tiễn của việc lựa chọn các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam, các hìnhthức FDI theo Luật đầu tư ở nước ta và thực trạng các hình thức FDI ở Việt Nam cùng với các đề xuất, kiến nghị chính sách về FDI.
Phùng Xuân Nhạ (2010) với sách chuyên khảo về đề tài “Điều chỉnh chính sách đầu tư FDI ở Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế”. Tác giả đã đưa ra một số vấn đề lý thuyết và thực tiễn cũng như chính sách FDI ở Việt Nam. Đánh giá về sự thay đổi, điều chỉnh chính sách FDI ở Việt Nam trong quá trình hội nhập nền kinh tế thế giới. Tác giả cũng đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả điều chỉnh chính sách FDI của Việt Nam trong giai đoạn hậu WTO… Nghiên cứu của Chu Thị Kim Loan, Trần Hữu Cường, Nguyễn Hùng Anh (2010) “Một số giải pháp nhằm cải thiện môi trường đầu tư vào nông nghiệp của Hà Nội”.
Nghiên cứu khẳng định mặc dù Hà Nội là một trong những địa phương thu hút được nhiều dự án đầu tư từ các doanh nghiệp trong và ngoài nước nhưng trên thực tế số lượng dự án đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp so với các ngành kinh tế khác còn khá khiêm tốn. Vì vậy, cải thiện môi trường đầu tư trong lĩnh vực nông nghiệp của Hà Nội là cần quan trọng đối với sự phát triển của thành phố Hà Nội. Căn cứ vào kết quả đánh giá về môi trường đầu tư vào nông nghiệp của Hà Nội, định hướng phát triển và đầu tư vào nông nghiệpcủa Hà Nội, cũng như một số ý kiến của các chủ đầu tư về giải pháp cải thiện môi trường đầu tư, nghiên cứu này đã đề xuất 08 giải pháp chủ yếu để cải thiện môi trường đầu tư trong lĩnh vực nông nghiệp của Hà Nội. Hai nhóm giải pháp đầu tiên cần được chú ý tới là: hoàn thiện và bổ sung cơ chế, chính sách nhằm tăng khả năng tiếp cận đến nguồn lực đất đai và vốn của chủ đầu tư, nâng cao mức ưu đãi, hỗ trợ cho các nhà đầu tư vào nông nghiệp.
Bên cạnh đó, thành phố cần quan tâm tới các giải pháp khác như cải thiện cơ sở hạ tầng nông thôn; hoàn thiện hệ thống thị trường; tiếp tục cải cách thủ tục hành chính; tăng cường sự liên kết, phối hợp giữa các ban ngành và tổ chức; nâng cao chất lựợng nguồn lao động, và tăng cường công tác xúc tiến đầu tư. Nghiên cứu của Khổng Văn Thắng và Trịnh Bích Toàn (2013) “Cải cách Thủ tục hành chính động lực thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài tại tỉnh Bắc Ninh” đã cho rằng cải cách hành chính là một động lực mạnh mẽ để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, phát triển dân chủ và các mặt khác của đời sống xã hội. Chính vì thế mà trong những năm qua tỉnh Bắc Ninh đã tích cực và thực hiện đồng bộ việc cải cách hành chính theo hướng một cửa, một cửa liên thông hiện đại để làm cho bộ máy hành chính của tỉnh hoàn thiện hơn, hoạt động có hiệu quả hơn, phục vụ nhân dân ngày một đúng pháp luật, tốt hơn và tiết kiệm nhất, dần từng bước chuyển nền hành chính từ cơ quan cai quản thành các cơ quan phục vụ dân, làm các dịch vụ hành chính đối với dân, công dân là khách hàng của nền hành chính, là người đánh giá khách quan nhất về mọi hoạt động của bộ máy nhà nước, bộ máy hành chính. Nhờ những động thái tích cực này mà thu hút đầu tư vào Bắc Ninh nói chung và nhất là thu hút đầu tư nước ngoài (FDI) nói riêng trong nhiều năm qua luôn đứng tốp đầu cả nước.
Đặc biệt chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh của Bắc Ninh liên tục nhiều năm qua có sự cải tiến vượt bậc năm sau cao hơn năm trước từ vị trí thứ 20 năm 2007 đến hết 2011 đã lên thứ 2 toàn quốc; vốn đầu tư nước ngoài đang là động lực chính để giúp tỉnh Bắc Ninh đến 2015 cơ bản trở thành tỉnh công nghiệp. Luận văn Thạc sĩ của tác giả Bùi Mạnh Hà (2014) “Môi trường thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ở tỉnh Vĩnh Phúc” tác giả đã hệ thống hóa những vấn đề lý luận và thực tiễn về môi trường thu hút vốn đầu tư và tác động đến đầu tư trực tiếp nước ngoài, trên cơ sở đó luận văn phân tích thực trạng môi trường thu hút vốn đầu tư và đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) ở Vĩnh Phúc trong thời gian từ 2005 đến tháng 10 năm 3013. Dựa trên đánh giá những tồn tại và hạn chế, luận văn đã đề xuất một số phương hướng và biện pháp cải thiện môi trường đầu tư nhằm nâng cao khả năng thu hút vốn FDI tại Vĩnh Phúc thời gian đến năm 2015. Luận văn thạc sĩ của tác giả Bùi Thị Tuyết Anh (2014) “Hoàn thiện môi trường đầu tư nhằm tăng cường thu hút FDI ở Hải Phòng”.
Tác giả đã khẳng định thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài là một chủ trương lâu dài và nhất quán của Đảng và Nhà nước ta, nó đã và đang tác động tích cực vào việc thực hiện các mục tiêu của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của nước ta nói chung và thành phố Hải Phòng nói riêng. Theo đó, môi trường đầu tư hiểu theo nghĩa chung nhất là tổng hòa các yếu tố bên ngoài liên quan đến hoạt động đầu tư. Hải Phòng là một thành phố có nhiều lợi thế trong thu hút FDI. Những thành quả và kinh nghiệm đã thu được trong hoạt động FDI của thành phố là rất quan trọng, tạo tiền đề cho việc thu hút nhiều hơn các nguồn vốn quốc tế.
Tuy nhiên, dù đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận nhưng so với tiềm năng và nhu cầu về nguồn vốn FDI để phát triển thì khối lượng cũng như chất lượng các dự án FDI chưa tương xứng, chưa đáp ứng kỳ vọng để phát triển nhanh và bền vững kinh tế xã hội của thành phố Hải Phòng.