CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ FDI VÀ CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG THU HÚT FDI 1.1 Cơ sở lý luận về FDI và thu hút FDI 1.1 Khái niệm về đầu tư trực tiếp nước ngoài Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO, 1996) đưa ra định nghĩa như sau về FDI: Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước (nước chủ đầu tư) có được một tài sản ở một nước khác (nước thu hút đầu tư) cùng với quyền quản lý tài sản đó. Phương diện quản lý là thứ để phân biệt FDI với các công cụ tài chính khác. Trong phần lớn trường hợp, cả nhà đầu tư lẫn tài sản mà người đó quản lý ở nước ngoài là các cơ sở kinh doanh. Trong những trường hợp đó, nhà đầu tư thường hay được gọi là "công ty mẹ" và các tài sản được gọi là "công ty con" hay "chi nhánh công ty".
Theo định nghĩa về FDI của OECD (1996): Đầu tư trực tiếp được thực hiện nhằm thiết lập các mối quan hệ kinh tế lâu dài với một doanh nghiệp đặc biệt là những khoản đầu tư mang lại khả năng tạo ảnh hưởng đối với việc quản lý doanh nghiệp nói trên bằng cách: (i) Thành lập hoặc mở rộng một doanh nghiệp hoặc một chi nhánh thuộc toàn quyền quản lý của chủ đầu tư; (ii) Mua lại toàn bộ doanh nghiệp đã có; (iii) Tham gia vào một doanh nghiệp mới; (iv) Cấp tín dụng dài hạn (> 5 năm). Theo IMF (1977, 1993): FDI nhằm đạt được những lợi ích lâu dài trong một doanh nghiệp hoạt động trên lãnh thổ của một nền kinh tế khác nền kinh tế nước chủ đầu tư, mục đích của chủ đầu tư là giành quyền quản lý thực sự doanh nghiệp. Theo điều 3 Luật đầu tư 2005 của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam: Đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình để hình thành tài sản tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan. Đầu tư trực tiếp là hình thức đầu tư do nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư và tham gia quản lý hoạt động đầu tư.
Từ các quan điểm trên có thể hiểu tổng quát FDI là một loại hình đầu tư của một tổ chức cá nhân vào một quốc gia trong đó thể hiện rõ các đặc điểm nổi bật của loại hình đầu tư này là có sự chuyển dịch dòng vốn, công nghệ…sản xuất từ chủ TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 đầu tư vào quốc gia được đầu tư và chủ đầu tư có khả năng quản lý trực tiếp toàn bộ hoặc theo tỷ lệ vốn góp để đầu tư trên cơ sở tuân thủ luật pháp của nước tiếp nhận đầu tư.2 Đặc điểm FDI Vốn FDI có các đặc điểm nổi bật để phân biệt với các nguồn vốn khác như: Chủ đầu tư vốn FDI là tổ chức hay cá nhân có quyền sở hữu vốn, chủ đầu tư có quốc tịch nước ngoài, tiến hành đầu tư tại một nước khác vì vậy nhà đầu tư nước ngoài phải tuân thủ luật pháp của nước tiếp nhận đầu tư. Chủ sở hữu vốn đầu tư trực tiếp tham gia quản lý, điều hành quá trình sử dụng vốn, có nghĩa vụ và quyền lợi từ hoạt động sản xuất kinh doanh tương ứng với phần vốn góp đó. Vốn FDI không chỉ bao gồm vốn đầu tư ban đầu của chủ đầu tư nước ngoài dưới hình thức vốn điều lệ hoặc vốn pháp định mà nó còn bao gồm vốn vay của các nhà đầu tư để triển khai và mở rộng dự án cũng như vốn đầu tư được trích lại từ lợi nhuận sau thuế từ kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh. Đây là loại hình đầu tư dài hạn bởi hoạt động đầu tư này gắn liền với việc chuyển giao công nghệ, kỹ thuật, xây dựng cơ sở sản xuất, kinh doanh tại nước tiếp nhận đầu tư.
Vốn FDI là hình thức đầu tư trực tiếp của các nhà đầu tư nước ngoài, họ mang vốn đến nước khác để đầu tư. Vốn FDI chủ yếu là đầu tư tư nhân với mục đích tìm kiếm lợi nhuận nên có thể gây ra nhiều tổn thất gây ảnh hưởng đến lợi ích quốc gia và mục tiêu thu hút vốn của nước nhận đầu tư. Có thể gây ra sự mất cân đối hay tác động xấu lâu dài cho kinh tế, xã hội, môi trường… 1.3 Các Hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài -Từ góc nhìn của các nhà đầu tư, theo Caves (1971) FDI được chia thành 3 loại: Công ty đa quốc gia “theo chiều ngang” sản xuất các sản phẩm cùng loại hoặc tương tự ở các quốc gia khác nhau. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 10 Công ty đa quốc gia “theo chiều dọc” có các cơ sở sản xuất ở một số nước nào đó, sản xuất ra sản phẩm là đầu vào cho sản xuất của nó ở một số nước khác.
Công ty đa quốc gia “đa chiều” có các cơ sở sản xuất ở các nước khác nhau mà chúng hợp tác theo cả chiều ngang và chiều dọc. Với quan điểm đầu tư - nước tiếp nhận FDI có thể được phân loại thành: FDI thay thế nhập khẩu, FDI tăng xuất khẩu và FDI bằng nỗ lực của chính phủ. FDI thay thế nhập khẩu liên quan đến sản xuất sản phẩm được nhập khẩu từ nước đi đầu tư. Việc này làm giảm nhập khẩu của các quốc gia và giảm xuất khẩu của các nước đầu tư.
Hình thức này phụ thuộc vào kích thước của thị trường đầu tư của nước tiếp nhận, chi phí vận chuyển, và các rào cản thương mại. Hình thức thứ hai: FDI tăng xuất khẩu được khuyến khích vì mong muốn tìm kiếm đầu vào mới cho sản xuất như nguyên vật liệu và các sản phẩm trung gian. FDI cũng được phân loại dựa trên cách mở rộng khai thác ưu điểm của đầu tư tại nước tiếp nhận để tăng doanh thu đầu tư. Bên cạnh đó, FDI tìm kiếm cho nguồn lao động giá rẻ tại nước tiếp nhận để giảm chi phí sản xuất.
Mở rộng FDI bị ảnh hưởng bởi lợi thế của các công ty hoạt động trong nước của các nhà đầu tư như: quy mô doanh nghiệp, tập trung nghiên cứu và phát triển (R&D), khả năng sinh lợi của lợi thế công nghệ. FDI bằng nỗ lực của chính phủ: là sự trợ cấp đầu tư theo quy định của nước sở tại, tạo công ăn việc làm, rút ngắn sự chênh lệch giữa các khu vực tiếp nhận, cũng như giảm thâm hụt cán cân thanh toán (UNCTAD, 2002). Theo luật đầu tư số Số: 67/2014/QH13 do Quốc Hội ban hành ngày 26/11/2014 quy định: các hình thức đầu tư FDI phổ biến bao gồm: Doanh nghiệp liên doanh Đây là hình thức tổ chức kinh doanh quốc tế trong đó có các bên tham gia có quốc tịch khác nhau giữa một bên là nhà đầu tư của nước sở tại và bên còn lại TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 11 là của đối tác nước ngoài. Hình thức này có đặc điểm là thành lập doanh nghiệp mới theo pháp luật của nước sở tại, có tư cách pháp nhân theo luật của nước chủ nhà, các bên tham gia có quốc tịch khác nhau cùng kết hợp lại trên cơ sở cùng nhau góp vốn, cùng quản lý, cùng phân phối lợi nhuận, cùng nhau chia sẻ rủi ro để tiến hành các hoạt động kinh doanh.
Tỷ lệ góp vốn do các bên thỏa thuận dựa trên cơ sở luật định của nước nhận đầu tư. Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài Đây là loại hình doanh nghiệp do các nhà đầu tư nước ngoài bỏ toàn bộ vốn thành lập, tổ chức quản lý và điều hành. Loại hình này có đặc điểm là dạng công ty trách nhiệm hữu hạn, có tư cách pháp nhân theo luật nước chủ nhà, sở hữu hoàn toàn của người nước ngoài, chủ đầu tư nước ngoài tự quản lý và chịu trách nhiệm về kết quả sản xuất kinh doanh, quyền lợi và nghĩa vụ trong hoạt động kinh doanh hoàn toàn thuộc về nhà đầu tư nước ngoài nhưng thành lập pháp nhân tại nước sở tại nên chịu sự kiểm soát của pháp luật của nước sở tại. Hợp đồng hợp tác kinh doanh (sau đây gọi tắt là hợp đồng BCC) Là hình thức đầu tư được ký giữa các nhà đầu tư nhằm hợp tác kinh doanh phân chia lợi nhuận, phân chia sản phẩm mà không thành lập pháp nhân.
Nước nhận đầu tư sẽ phê chuẩn hợp đồng giữa các bên, thời hạn do các bên thỏa thuận Ngoài ra còn một số hình thức đầu tư ít phổ biến hơn như: BOT, BTO, BT, PPPgóp vốn, mua cổ phần và sáp nhập, mua lại công ty được quy định chi tiết trong Luật đầu tư (xem phụ lục 9).4 Vai trò của FDI với nước tiếp nhận đầu tư FDI bổ sung nguồn vốn cho nhu cầu phát triển kinh tế của nước sở tại. Các lý thuyết FDI và đặc biệt Lý thuyết “Cái vòng luẩn quẩn” và “cú huých” từ bên ngoài nhà kinh tế học người Mỹ Samuelson đã chỉ rõ các nước đang phát triển và các nước kém phát triển ít tư bản muốn có tăng trưởng phải có đầu tư, muốn có đầu tư phải có tư bản. Để đáp ứng nhu cầu về vốn thì cần đi vay, trong khi các quốc gia này (đặc biệt là các nước kém phát triển) có khả năng vay vốn thấp và khó trong việc hoàn trả vốn vay. Để đáp ứng nhu cầu đầu tư, các nước nghèo chỉ còn TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 12 một giải pháp là thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài.
Chính đầu tư trực tiếp nước ngoài là một kênh thu hút vốn trọng yếu để các quốc gia này thoát khỏi vòng luẩn quẩn. Thứ hai, Vốn FDI là yếu tố góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Thông qua việc chuyển giao những công nghệ và lĩnh vực sản xuất còn là mới và khá hiện đại đối với nước tiếp nhận đầu tư, FDI góp phần cải thiện cơ cấu kinh tế nước tiếp nhận đầu tư theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Sự xuất hiện các doanh nghiệp FDI còn kích thích một số ngành sản xuất công nghiệp phụ trợ ở các nước đang phát triển để hoàn thiện chuỗi cung ứng sản xuất theo hướng công nghiệp hóa hiện đại hóa.
Thứ ba, FDI giúp thúc đẩy hoạt động thương mại quốc tế và cải thiện cán cân thanh toán. Việc xuất hiện các doanh nghiệp FDI tại một nước sở tại trước hết sẽ đáp ứng nhu cầu về sản phẩm trong thị trường nội địa, đồng nghĩa với việc giảm bớt hàng hóa thay thế nhập khẩu để đáp ứng nhu cầu nội địa.