CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 1.1 Các nghiên cứu trên thế giới Theo khuyến cáo của Ngân hàng thế giới (2011) [1], thu hút và duy trì sự tham gia của NĐT TN là chìa khóa để thúc đẩy và triển khai thành công các dự án đầu tư liên quan đến cung cấp sản phẩm, dịch vụ công. Hiện tại, có rất nhiều nghiên cứu trên thế giới nhằm thu hút sự tham gia của NĐT TN trên cả phương diện lý luận và thực tiễn. Dưới đây là các công trình nghiên cứu tiêu biểu: - Đầu tiên, phải kể đến các nghiên cứu dưới góc độ cải thiện môi trường đầu tư, hoàn thiện khung pháp lý, hệ thống pháp luật để thu hút sự tham gia của NĐT TN. Theo Ngân hàng thế giới, một khung pháp lý chặt chẽ và mạnh mẽ sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc triển khai thành công một dự án từ giai đoạn đấu thầu, mua sắm, xây dựng cho đến quá trình vận hành, chuyển giao sau này; đồng thời cũng khuyến khích sự tích cực tham gia của NĐT TN [2].
Chính vì vậy, Ngân hàng thế giới đã xây dựng và phát hành tài liệu hướng dẫn về xây dựng khung pháp lý, bao gồm các mục tiêu chính và yêu cầu cụ thể, nhằm hỗ trợ các cơ quan Chính phủ tự tìm hiểu và xây dựng khung pháp lý phù hợp với điều kiện quốc gia mình để thu hút sự tham gia của NĐT TN. Nội dung về nghiên cứu xây dựng và hoàn thiện các khung thể chế, chính sách cũng được tìm thấy tại một số các tài liệu liên quan khác như [3], [4], [5], [6], [7]. Một điều được thừa nhận rằng: không có một khung pháp lý nào chung cho tất cả các nước trên thế giới [2]; mỗi quốc gia có trình độ xây dựng, quản lý luật pháp, hành chính và điều kiện phát triển kinh tế - xã hội khác nhau, nên sẽ phát triển khung pháp lý theo mỗi cách khác nhau. - Tiếp theo, là các nghiên cứu dưới góc độ hỗ trợ tài chính.
Hỗ trợ tài chính là một trong những công cụ, giải pháp chính mà khu vực công thường áp dụng để tăng tính hấp dẫn, thu hút NĐT TN. Nghiên cứu dưới góc độ hỗ trợ tài chính là tập trung vào các yếu tố: nguồn vốn hỗ trợ từ Nhà nước, cơ cấu vốn chủ sở hữu, cơ chế thanh toán 6 và lãi suất vay,… Đầu thế kỷ 90, các nhà nghiên cứu đã tìm cách nghiên cứu đặc điểm của các dự án liên quan đến cung cấp sản phẩm, dịch vụ công có sự tham gia của NĐT TN bằng cách tóm tắt các đặc điểm, quá trình triển khai thực tế (Tiong, 1990) và thông qua việc phân tích chi phí, nhượng quyền, cơ cấu vốn chủ sở hữu (Tiong, 1995a) [8], từ đó thiết lập nền tảng lý thuyết cho việc nghiên cứu và áp dụng. Họ đã phân tích mối quan hệ giữa lợi nhuận trên vốn sở hữu của nhà đầu tư (ROE), giá trị hiện tại ròng của dự án (NPV), khả năng chi trả và tiết lộ rằng khả năng chi trả/thanh toán có tác động trực tiếp về giá trị các dự án của các nhà đầu tư. Vào thời điểm đó, mục tiêu của hầu hết các nghiên cứu trong lĩnh vực này là để làm rõ sự khác biệt giữa mua sắm theo mô hình có sự tham gia của NĐT TN và theo các mô hình truyền thống để chứng minh khả năng áp dụng vào thực tế của một dự án cụ thể.
Sau năm 2000, các nghiên cứu vẫn tiếp tục tập trung vào các vấn đề cụ thể của nội dung hỗ trợ tài chính. Bakatjan và cộng sự (2003) [9], đã trình bày một mô hình được đơn giản hóa là sự kết hợp giữa một mô hình tài chính và mô hình lập trình tuyến tính để xác định mức vốn chủ sở hữu tối ưu cho những người ra quyết định trong giai đoạn đánh giá một dự án. Smith và cộng sự (2004) [10] đã phân tích các giai đoạn của một dự án, bao gồm: đàm phán, xây dựng và vận hành của dự án nhà máy thủy điện Huaibei ở Trung Quốc và thấy rằng cơ chế thanh toán phải được quản lý phù hợp để tạo động lực cho khối tư nhân. và cộng sự (2010) [11], đã trình bày mô hình lập trình tuyến tính nâng cao để tính toán xác định cấu trúc tối ưu vốn chủ sở hữu, vốn hỗ trợ của Nhà nước nhằm cân bằng lợi ích giữa khu vực công và khu vực tư nhân.
Iyer và Sagheer (2011) [12], đã trình bày một mô hình toán dựa trên nguyên lý của kỹ thuật tính toán giải thuật di truyền mới (GA)1. Mô hình là một tập hợp các giải pháp tối ưu về cấu trúc của các biến có ảnh hưởng quan trọng nhất, gồm: khoản tiền hỗ trợ từ Nhà nước, nợ và vốn chủ sở hữu. Với bài toán tương tự đặt ra, tác giả Ke Feng và cộng sự (2017) [13], đã sử dụng phương pháp giải thuật di truyền kết hợp với phương pháp mô phỏng Monte Carlo có xem xét đến tính ngẫu nhiên của các yếu tố liên quan nhằm tìm cấu trúc tối ưu cho phần tham gia của Nhà nước và NĐT TN. Trong nghiên cứu của mình, tác giả 1 Giải thuật di truyền (GA) là một trong những mô hình tính toán phổ biến và thành công nhất trong lĩnh vực tính toán thông minh.
Cùng với các kỹ thuật tính toán thông minh khác như tính toán mờ (fuzzy computing), mạng Nơ-ron (neural networks), hệ đa tác tử (multiagent systems)… 7 Malini (1999) [14], đã phát triển một mô hình mô phỏng để kiểm tra tính khả thi về mặt tài chính bị ảnh hưởng bởi các lựa chọn khác nhau như: cơ cấu thu phí, thời gian điều chỉnh thu phí, mức độ trợ cấp kinh phí của nhà nước và thời gian nhượng quyền. - Tiếp đến, các nghiên cứu dưới góc độ quản lý rủi ro cũng thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu. Nghiên cứu dưới góc độ quản lý rủi ro là tập trung vào khám phá các phương pháp xác định rủi ro, đánh giá rủi ro và phân bổ rủi ro nhằm thu hút sự tham gia của NĐT TN. Trong các tài liệu nghiên cứu đã chỉ ra rằng, các dự án thành công đều có khả năng và chiến lược phù hợp trong quản lý rủi ro (Tiong, 1995b) [15]; tuy nhiên, việc đánh giá rủi ro là rất phức tạp bởi nó đòi hỏi một phân tích từ các quan điểm khác nhau giữa khu vực công và khu vực tư nhân (Grimsey và Lewis, 2002) [16].
Liên quan đến các phương pháp đánh giá rủi ro, kỹ thuật được sử dụng rộng rãi nhất là áp dụng ma trận rủi ro, nó bao gồm các yếu tố rủi ro cụ thể và xác suất xảy ra của từng yếu tố rủi ro. Một kỹ thuật khác gần đây được sử dụng kỹ thuật tính toán thông minh phương pháp tính toán mờ (fuzzy computing). Đây là phương pháp ngày càng trở nên phổ biến như một phương tiện để đánh giá mức độ rủi ro (Ameyaw và Chan, 2013) [17]. Bên cạnh đó, phương pháp Monte Carlo được sử dụng như một công cụ hiệu quả cho việc mô phỏng sự không xác định trong quá trình xây dựng và nhượng quyền (Wibowo và Alfen, 2013) [18].
Là một trong những lợi ích chính của các mô hình đầu tư có sự tham gia của NĐT TN, phân bổ rủi ro giữa khu vực công và tư nhân đã thu hút đáng kể sự quan tâm từ các nhà nghiên cứu, trong đó có nghiên cứu của Abednego và Ogun (2006) [19]. - Một góc độ nghiên cứu khác là phân tích hiệu quả đầu tư. Nghiên cứu dưới góc độ phân tích hiệu quả đầu tư thường tập trung vào phân tích hiệu quả về mặt tài chính nhằm sàng lọc dự án và quyết định có nên lựa chọn dự án đang nghiên cứu hay không. Hình thức này được sử dụng rất phổ biến bởi các NĐT TN, các tổ chức tài chính và Nhà nước do sự đơn giản của nó.
Về cơ bản, phương pháp này dựa trên nguyên tắc có xem xét đến giá trị thời gian của tiền (Time Value of Money) thông qua hệ số chiết khấu (Discount Rate) nhằm quy đổi dòng tiền của dự án về cùng một thời điểm. Hệ thống các chỉ tiêu phản ánh kết quả và hiệu quả đầu tư của một dự án là rất đa dạng, gồm: thời gian hoàn vốn (T), giá trị hiện tại ròng (NPV), tỷ suất hoàn vốn nội bộ 8 (IRR), giá trị của tiền (Value for Money - VFM)… Nghiên cứu được thực hiện bởi Hurst và Reeves (2004) [20] đã áp dụng các tiêu chí cạnh tranh, tính hiệu quả. Các khía cạnh được đề cập trong nghiên cứu này bao gồm: sự hiệu quả đầu tư về mặt tài chính dựa trên giá trị của tiền (Value for Money - VFM), sự hài lòng của các bên liên quan và môi trường đầu tư. Lee (2011) [21] đã thiết kế một mô hình phân tích kinh tế dựa trên việc mô phỏng nhiều kịch bản, bao gồm: các chiến lược đầu tư thích ứng (tức là bắt đầu mạnh mẽ, sau đó thích ứng), dựa trên sự cộng tác của Nhà nước - tư nhân và các cơ quan liên quan trong các giai đoạn triển khai.
Trong những năm gần đây, trọng tâm của các nghiên cứu về tính khả thi về tài chính của các dự án chuyển từ việc tính toán các chỉ số đánh giá theo phương pháp truyền thống sang phát triển và thiết lập các phương pháp đánh giá mới. Một cách tiếp cận tương tự đã được thực hiện để đánh giá tính khả thi về tài chính của dự án dựa trên việc đưa ra quyết định. Fantozzi và cộng sự (2014) [22] đã kiểm tra thực tiễn phát triển các mô hình so sánh với dự án do khu vực công thực hiện (Public Sector Comparator - PSC) và phân tích hiệu quả đầu tư về mặt tài chính dựa trên giá trị của tiền (VFM) khi nó được áp dụng để đánh giá tính khả thi về tài chính của một dự án năng lượng sinh học. Các nghiên cứu được đề cập ở trên đã tập trung vào đánh giá ảnh hưởng về hiệu quả tài chính (VFM) đến việc đưa ra quyết định và làm cách nào để tính toán giá trị của tiền trong thực tế.
Tuy nhiên, việc phân tích giá trị của tiền đã không thành công khi phản ánh các tác động lâu dài về mặt xã hội do sự phát triển cơ sở hạ tầng (C. Cui và cộng sự, 2018) [23]. Để đạt được các mục tiêu phát triển bền vững, các yếu tố về mặt xã hội cần được xem xét để phát triển và hoàn thiện phương pháp sàng lọc dự án dựa trên giá trị tiền (Agarchand và Laishram, 2017) [24].