Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Xã Bình Thành là một xã thuộc tiểu vùng II của huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre, nằm cách trung tâm hành chính huyện khoảng 02 km. Xã có diện tích tự nhiên là 1.595,15 ha, cơ cấu hành chính được chia thành 6 ấp, dân số năm 2020 gồm 3.038 hộ với 12.062 nhân khẩu. Nền kinh tế của xã chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp (chiếm khoảng 80% dân số) với các mô hình trồng dừa, lúa, cây ăn trái và chăn nuôi. Cùng với quá trình phát triển kinh tế - xã hội, khối lượng chất thải rắn sinh hoạt (CTRSH) phát sinh trên địa bàn ngày càng gia tăng, tạo áp lực lớn lên môi trường địa phương.

Mặc dù chính quyền địa phương đã có nhiều nỗ lực trong công tác bảo vệ môi trường, hoạt động quản lý, thu gom và vận chuyển CTRSH tại xã Bình Thành vẫn tồn tại nhiều bất cập: tỷ lệ thu gom còn rất thấp (chỉ có 455/3.038 hộ tham gia, đạt 15%), hạ tầng thu gom thiếu thốn, ý thức phân loại và xử lý rác của một bộ phận người dân còn hạn chế, dẫn đến tình trạng tự ý đốt rác bừa bãi hoặc vứt rác xuống sông rạch, ven đường gây ô nhiễm môi trường và mất mỹ quan.

Đề tài "Đánh giá hiện trạng và đề xuất giải pháp thu gom, vận chuyển chất thải rắn sinh hoạt tại xã Bình Thành, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre" được thực hiện nhằm đáp ứng các mục tiêu và nhiệm vụ cụ thể:

Mục tiêu nghiên cứu:

  1. Đánh giá hiện trạng công tác thu gom, vận chuyển chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn xã Bình Thành.
  2. Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác thu gom, vận chuyển chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn xã Bình Thành.

Nội dung và nhiệm vụ nghiên cứu:

  1. Tìm hiểu tổng quan về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và cơ sở hạ tầng của xã Bình Thành.
  2. Tìm hiểu các văn bản quy phạm pháp luật và quy định của địa phương liên quan đến công tác quản lý, thu gom, vận chuyển CTRSH.
  3. Khảo sát, nghiên cứu hiện trạng phát sinh, khối lượng, thành phần và hoạt động thu gom, vận chuyển CTRSH trên địa bàn xã.
  4. Xác định các vấn đề còn tồn đọng, khó khăn và nguyên nhân trong công tác thu gom, vận chuyển CTRSH tại địa phương.
  5. Điều tra, đánh giá mức độ hài lòng và ý kiến của người dân về dịch vụ thu gom, vận chuyển CTRSH.
  6. Dự báo lượng phát sinh CTRSH đến năm 2030 và đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý, thu gom, vận chuyển CTRSH phù hợp với điều kiện thực tế của xã.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Chất thải rắn sinh hoạt và toàn bộ hệ thống quản lý, thu gom, vận chuyển CTRSH trên địa bàn xã Bình Thành, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre.
  • Phạm vi không gian: Địa bàn hành chính 6 ấp thuộc xã Bình Thành (ấp Hồ Sen, Bình Lợi, Bình Đông, Bình Phú, Bình An, Bình Tiên).
  • Phạm vi thời gian: Đề tài được triển khai thu thập số liệu và nghiên cứu thực địa từ tháng 03/2021 đến tháng 11/2021 (số liệu thống kê nền tảng lấy mốc năm 2020).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Đồ án được xây dựng trên hệ thống lý luận quản lý môi trường chuyên ngành, các quy định pháp luật hiện hành và phương pháp luận điều tra thực địa có độ tin cậy cao:

Khung lý thuyết và cơ sở pháp lý

  • Khái niệm và nguyên tắc chuyên ngành: Khái niệm chất thải rắn, chất thải rắn sinh hoạt (phân loại thành rác vô cơ, rác hữu cơ, chất thải nguy hại); các mắt xích trong chuỗi quản lý chất thải rắn (phân loại tại nguồn, lưu giữ tạm thời, thu gom, trạm trung chuyển/điểm hẹn, vận chuyển và xử lý cuối đường ống); tổng quan các công nghệ xử lý chất thải phổ biến (thiêu đốt, ủ sinh học compost, chôn lấp hợp vệ sinh, tái chế).
  • Cơ sở pháp lý: Luật Bảo vệ môi trường số 55/2014/QH13; Nghị định số 59/2007/NĐ-CP của Chính phủ về quản lý chất thải rắn; Nghị định số 38/2015/NĐ-CP về quản lý chất thải và phế liệu; Nghị định số 18/2015/NĐ-CP quy định về quy hoạch bảo vệ môi trường, đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường và kế hoạch bảo vệ môi trường.

Phương pháp nghiên cứu thực tế

Tác giả đã kết hợp đồng bộ các phương pháp định tính và định lượng:

  • Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp: Kế thừa các báo cáo kinh tế - xã hội, hiện trạng môi trường, số liệu dân số và quy hoạch từ UBND huyện Giồng Trôm, Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Giồng Trôm, UBND xã Bình Thành và Công ty TNHH TM&XD Hưng Lộc Tiến.
  • Phương pháp điều tra xã hội học bằng bảng hỏi: Áp dụng công thức chọn mẫu ngẫu nhiên Yamane với mức sai số cho phép $e = 0,1$:
    • Nhóm hộ gia đình thuộc tuyến thu gom ($N = 455$ hộ): Quy mô mẫu khảo sát là $n = 82$ phiếu (phân bổ theo ấp: Bình Đông 6 phiếu, Bình Phú 16 phiếu, Bình An 36 phiếu, Bình Tiên 24 phiếu).
    • Nhóm hộ gia đình không nằm trong tuyến thu gom ($N = 2.583$ hộ): Quy mô mẫu khảo sát là $n = 96$ phiếu (phân bổ theo ấp: Hồ Sen 12 phiếu, Bình Lợi 14 phiếu, Bình Đông 20 phiếu, Bình Phú 21 phiếu, Bình An 20 phiếu, Bình Tiên 10 phiếu).
    • Tổng số mẫu điều tra hộ gia đình: 178 phiếu.
  • Phương pháp phỏng vấn sâu cá nhân và chuyên gia: Phỏng vấn trực tiếp cán bộ phụ trách môi trường xã Bình Thành (bà Nguyễn Thị Ngà), công nhân thu gom rác trực tiếp (ông Nguyễn Văn Chồi), tham vấn ý kiến lãnh đạo Phòng TN&MT huyện Giồng Trôm và các giảng viên Khoa Môi trường và Tài nguyên – Trường Đại học Nông Lâm TP.HCM.
  • Phương pháp thực nghiệm xác định thành phần cơ học của rác: Lấy mẫu CTRSH tại điểm tập kết với khối lượng ban đầu khoảng 12 kg trong 1 ngày, áp dụng phương pháp chia tư hình côn nhiều lần để rút gọn mẫu đại diện xuống còn 1,5 kg, sau đó tiến hành phân loại thủ công thành từng nhóm (rác hữu cơ, kim loại/thủy tinh, túi nilon/bao bì/hộp xốp, chai/ly nhựa/giấy, thành phần khác), cân khối lượng từng loại để tính tỷ lệ phần trăm.
  • Phương pháp dự báo: Sử dụng công thức toán học Euler $N_t = N_0 \times (1+r)^t$ để dự báo quy mô dân số và phương pháp hệ số phát thải bình quân để tính toán lượng phát sinh CTRSH đến năm 2030.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Mở đầu

Chương này thiết lập tính cấp thiết của đề tài trong bối cảnh xã Bình Thành đang đối mặt với lượng rác thải gia tăng nhưng tỷ lệ thu gom tập trung chỉ đạt 15%. Tác giả xác định rõ 2 mục tiêu nghiên cứu, 6 nội dung nhiệm vụ cụ thể, đối tượng nghiên cứu là CTRSH và hệ thống thu gom - vận chuyển tại xã Bình Thành, phạm vi nghiên cứu từ tháng 03/2021 đến tháng 11/2021, đồng thời khẳng định ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài đối với công tác bảo vệ môi trường nông thôn.

Chương 2: Tổng quan về quản lý chất thải rắn sinh hoạt và địa bàn nghiên cứu

Chương 2 cung cấp bức tranh toàn diện về lý thuyết và thực tiễn:

  • Tổng quan các khái niệm, nguồn gốc, thành phần, tác động của CTRSH đến sức khỏe cộng đồng, môi trường nước, đất, không khí và cảnh quan; so sánh ưu - nhược điểm của 4 phương pháp xử lý chất thải chính (đốt, ủ compost, chôn lấp, tái chế).
  • Khái quát bức tranh quản lý CTRSH tại Việt Nam năm 2019: tổng khối lượng phát sinh tăng 46% so với năm 2010; tỷ lệ thu gom đô thị đạt 92%, nông thôn đạt 66%; cả nước có 1.322 cơ sở xử lý (381 lò đốt, 37 dây chuyền compost, 904 bãi chôn lấp với chỉ 20% hợp vệ sinh).
  • Tổng quan điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội xã Bình Thành: diện tích 1.595,15 ha, 6 ấp, 3.038 hộ (12.062 người); địa hình đồng ruộng xen vườn dừa; hạ tầng giao thông gồm Tỉnh lộ 885, Huyện lộ 10, Lộ K20 và hệ thống đường liên ấp đã bê tông hóa, tạo điều kiện thuận lợi cơ bản cho mạng lưới giao thông đường bộ.

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu

Trình bày chi tiết quy trình và công cụ nghiên cứu:

  • Xây dựng bảng hỏi và quy trình phân bổ mẫu khảo sát 178 hộ dân (82 hộ trong tuyến và 96 hộ ngoài tuyến) theo công thức chọn mẫu Yamane ($e = 0,1$).
  • Thiết lập quy trình phỏng vấn chuyên sâu cán bộ môi trường xã và công nhân thu gom.
  • Quy trình lấy mẫu và phân tích thành phần cơ học rác thải thực tế bằng phương pháp rút gọn mẫu hình côn từ 12 kg xuống 1,5 kg.
  • Thiết lập công thức Euler và hệ số phát thải phục vụ công tác dự báo dân số và khối lượng phát sinh CTRSH đến năm 2030.

Chương 4: Kết quả và thảo luận

Đây là chương nội dung cốt lõi, cung cấp số liệu phân tích chi tiết về thực trạng và dự báo:

Chỉ tiêu nghiên cứu Số liệu / Kết quả xác định
Dân số và số hộ toàn xã (năm 2020) 3.038 hộ / 12.062 nhân khẩu (6 ấp)
Tỷ lệ hộ dân đăng ký thu gom CTRSH 15% (455 hộ)
Tỷ lệ hộ dân chưa đăng ký thu gom CTRSH 85% (2.583 hộ)
Hệ số phát sinh CTRSH bình quân 0,58 kg/người/ngày
Tổng lượng CTRSH phát sinh từ hộ gia đình 6.995,96 kg/ngày (chiếm 85,4% tổng lượng rác)
Lượng CTRSH phát sinh từ cơ quan, trường học, chợ, cơ sở SXKD, chùa 1.200,00 kg/ngày (chiếm 14,6% tổng lượng rác)
Tổng lượng CTRSH phát sinh toàn xã 8.195,96 kg/ngày
Khối lượng CTRSH được thu gom tập trung 2.232,68 kg/ngày (hộ dân: 1.047,68 kg; nguồn khác: 1.185 kg)
Khối lượng CTRSH chưa được thu gom 5.963,28 kg/ngày (hộ dân: 5.948,28 kg; trạm y tế: 15 kg)
  • Thành phần cơ học CTRSH: Kết quả phân tích mẫu thực nghiệm 1,5 kg cho thấy:
    • Rác hữu cơ (thực phẩm thừa, lá cây...): 52,0% (0,78 kg).
    • Chai nhựa, ly nhựa, giấy: 18,0% (0,27 kg).
    • Kim loại, thủy tinh, lon nhôm: 14,0% (0,21 kg).
    • Túi nilon, bao bì, vỏ hộp cơm: 9,3% (0,14 kg).
    • Thành phần khác: 6,7% (0,10 kg).
  • Hệ thống tổ chức và hạ tầng thu gom: Công ty TNHH TM&XD Hưng Lộc Tiến thực hiện hợp đồng thu gom với UBND xã Bình Thành. Toàn xã chỉ có 01 xe hoa lâm chuyên dụng và 01 công nhân thu gom (ông Nguyễn Văn Chồi), tần suất thu gom 3 lần/tuần, chuyển rác về Bãi rác xã Tân Thanh. Mỗi ca xe phải chạy 3 lượt theo 3 tuyến thu gom:
    • Tuyến 1: Chiều dài 5,3 km (7h00 - 8h15), thu gom trục đường liên ấp Bình Đông - Bình Lợi, Huyện lộ 10, Lộ mới (ấp Bình An), Trường TH Bình Thành 1, THCS Bình Thành.
    • Tuyến 2: Chiều dài 5,4 km (8h30 - 9h45), thu gom Chợ Mới Bình Tiên, đường Bình Thành, đường Đồng Văn Cống.
    • Tuyến 3: Thu gom các cơ quan, trường học, khu vực còn lại trên trục Đường tỉnh 885.
  • Hành vi xử lý rác của 85% hộ chưa được thu gom (khảo sát 96 hộ): Đốt rác chiếm 56,3% (53 hộ); vứt xuống sông, kênh rạch hoặc gần nhà chiếm 25,0% (24 hộ); tự đào hố chôn lấp chiếm 13,5% (13 hộ); tự mang rác đến điểm có tuyến thu gom chiếm 5,2% (5 hộ).
  • Kết quả dự báo đến năm 2030: Quy mô dân số xã Bình Thành dự báo đạt 12.615 người, kéo theo lượng CTRSH phát sinh riêng từ khu dân cư tăng lên mức khoảng 7.316 kg/ngày.
  • Đề xuất giải pháp: Nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả tuyên truyền cộng đồng; phân loại rác tại nguồn thành 3 nhóm (hữu cơ, vô cơ tái chế, rác còn lại/nguy hại); trang bị thùng chứa rác có nắp đậy chuẩn hóa (loại 120L - 240L); đầu tư thêm phương tiện và tăng tần suất thu gom; giải pháp kỹ thuật xử lý rác hữu cơ tại chỗ bằng mô hình ủ phân compost cho các hộ có diện tích vườn rộng nằm ngoài tuyến thu gom.

Chương 5: Kết luận và kiến nghị

Tổng kết các phát hiện định lượng chính của đề tài, đánh giá toàn diện các nút thắt trong công tác quản lý CTRSH tại xã Bình Thành. Tác giả đưa ra các kiến nghị cụ thể đối với UBND tỉnh Bến Tre, Sở Tài nguyên và Môi trường, UBND huyện Giồng Trôm và UBND xã Bình Thành về việc bố trí kinh phí hỗ trợ, nâng cấp phương tiện thu gom đạt chuẩn, mở rộng tuyến thu gom đến các ấp vùng sâu (Hồ Sen, Bình Lợi, Bình Phú) và ban hành chế tài quản lý xả thải tại cấp xã.

Kết quả và đóng góp

Đồ án đã lượng hóa toàn diện bức tranh dòng chất thải và hệ thống kỹ thuật quản lý CTRSH tại một địa bàn nông thôn Tây Nam Bộ:

Hạng mục phát hiện Kết quả định lượng chi tiết
Tỷ lệ bao phủ dịch vụ thu gom 15% tổng số hộ (455/3.038 hộ); 85% hộ chưa có dịch vụ (2.583 hộ)
Tổng tải lượng CTRSH phát sinh 8.195,96 kg/ngày (Hộ dân: 85,4%; Nguồn khác: 14,6%)
Tải lượng thu gom và tồn đọng Đã thu gom: 2.232,68 kg/ngày; Tự xử lý tại chỗ/thải bỏ: 5.963,28 kg/ngày
Đặc trưng thành phần rác Rác hữu cơ chiếm đa số (52,0%), rác tái chế và trơ chiếm 48,0%
Tình trạng tự xử lý của người dân 56,3% hộ chọn giải pháp đốt lộ thiên; 25,0% vứt xuống kênh rạch, đất trống
Năng lực hạ tầng thu gom 01 xe hoa lâm, 01 nhân công, tần suất 3 lần/tuần trên 3 tuyến đường
Dự báo phát sinh đến năm 2030 Dân số: 12.615 người; Lượng CTRSH hộ dân: 7.316 kg/ngày

Đóng góp của đồ án:

  • Cung cấp bộ dữ liệu thực nghiệm và điều tra xã hội học độc lập, chi tiết về hệ số phát thải (0,58 kg/người/ngày), thành phần lý hóa và khối lượng phát sinh rác thải trên địa bàn xã Bình Thành.
  • Chỉ rõ "điểm nghẽn" kỹ thuật và tổ chức: năng lực thu gom quá yếu (chỉ 1 xe hoa lâm thô sơ và 1 công nhân) dẫn đến việc 85% hộ dân tại các ấp vùng ven (Hồ Sen, Bình Lợi, Bình Phú) bị loại khỏi mạng lưới thu gom tập trung, buộc phải đốt lộ thiên và xả thải xuống nguồn nước.
  • Đề xuất hệ thống giải pháp phân tầng phù hợp với nông thôn: kết hợp giữa việc mở rộng mạng lưới thu gom tập trung trên các trục giao thông chính với hướng dẫn kỹ thuật ủ rác hữu cơ làm phân bón (compost) tại hộ gia đình cho khu vực ngoài tuyến thu gom.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của đồ án:

  • Mẫu phân tích thành phần cơ học của chất thải rắn (12 kg rút gọn còn 1,5 kg) chỉ được thực hiện tại một điểm tập kết trong một đợt khảo sát đơn lẻ, chưa phản ánh đầy đủ sự biến thiên thành phần rác theo các mùa trong năm hoặc các dịp lễ tết.
  • Số liệu khối lượng rác phát sinh tại các hộ gia đình chủ yếu dựa trên phương pháp cân mẫu kết hợp ước tính qua bảng hỏi điều tra, có thể tồn tại sai số do thói quen xả thải không đồng đều giữa các nhóm thu nhập.
  • Chưa đi sâu đánh giá chi tiết chi phí - hiệu quả kinh tế (phân tích tài chính) của các phương án đầu tư phương tiện thu gom mới hoặc xây dựng trạm trung chuyển rác cấp xã.

Hướng nghiên cứu tiếp:

  • Mở rộng phạm vi nghiên cứu quan trắc, lấy mẫu thành phần rác theo các mùa (mùa khô và mùa mưa, mùa thu hoạch nông sản) trên toàn huyện Giồng Trôm.
  • Ứng dụng hệ thống thông tin địa lý (GIS) để số hóa dữ liệu dân cư, tối ưu hóa mạng lưới tuyến đường và lịch trình thu gom rác thải.
  • Nghiên cứu thực nghiệm mô hình ủ phân compost quy mô nông hộ và liên hộ bằng các chế phẩm vi sinh bản địa, đánh giá hiệu quả kinh tế và chất lượng mùn hữu cơ đối với cây trồng địa phương (đặc biệt là cây dừa và cây ăn trái).

Giá trị tham khảo

Tài liệu đồ án tốt nghiệp này mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho nhiều nhóm đối tượng:

  • Sinh viên, học viên ngành Quản lý Môi trường, Khoa học Môi trường và Kỹ thuật Môi trường: Tham khảo quy trình xây dựng phương pháp luận nghiên cứu thực địa, cách thức áp dụng công thức chọn mẫu Yamane trong khảo sát xã hội học môi trường và kỹ thuật rút gọn mẫu hình côn để phân tích thành phần cơ học của chất thải rắn.
  • Cán bộ quản lý môi trường cấp xã, huyện tại Bến Tre và vùng Đồng bằng sông Cửu Long: Sử dụng nguồn số liệu thực tế về hệ số phát thải nông thôn (0,58 kg/người/ngày), thành phần rác hữu cơ (52%) và các nguyên nhân cản trở thu gom để xây dựng đề án quản lý chất thải rắn nông thôn, thực hiện tiêu chí môi trường trong chương trình Xây dựng Nông thôn mới.
  • Các đơn vị cung ứng dịch vụ dịch vụ công ích môi trường: Tham khảo dữ liệu khảo sát về biểu giá thu phí, mức độ hài lòng của người dân và sơ đồ lộ trình tuyến xe để tối ưu hóa tần suất và phương tiện vận chuyển.

Câu hỏi thường gặp

1. Tỷ lệ thu gom chất thải rắn sinh hoạt tại xã Bình Thành đạt bao nhiêu phần trăm và tập trung ở khu vực nào?
Tỷ lệ thu gom CTRSH trên toàn xã Bình Thành chỉ đạt 15% (với 455 hộ trên tổng số 3.038 hộ dân). Các hộ dân tham gia thu gom tập trung chủ yếu trên các trục giao thông chính có điều kiện đi lại thuận lợi như Tỉnh lộ 885, đường Bình Thành và đường Đồng Văn Cống (thuộc các ấp Bình An, Bình Đông và Bình Tiên).

2. Hệ số phát sinh chất thải rắn sinh hoạt và tổng lượng phát sinh mỗi ngày tại xã Bình Thành là bao nhiêu?
Hệ số phát sinh CTRSH bình quân của người dân tại xã Bình Thành được xác định là 0,58 kg/người/ngày. Tổng khối lượng CTRSH phát sinh trên toàn xã là 8.195,96 kg/ngày (trong đó rác từ hộ gia đình là 6.995,96 kg/ngày chiếm 85,4%; rác từ cơ quan, trường học, chợ, cơ sở sản xuất kinh doanh và chùa là 1.200 kg/ngày chiếm 14,6%).

3. Thành phần cơ học của chất thải rắn sinh hoạt tại xã Bình Thành gồm những gì và tỷ lệ cụ thể ra sao?
Qua phân tích thực nghiệm mẫu rác 1,5 kg, thành phần gồm: Rác hữu cơ (thực phẩm thừa, lá cây) chiếm tỷ lệ cao nhất với 52,0% (0,78 kg); Chai nhựa, ly nhựa, giấy chiếm 18,0% (0,27 kg); Kim loại, thủy tinh, lon nhôm chiếm 14,0% (0,21 kg); Túi nilon, bao bì, vỏ hộp cơm chiếm 9,3% (0,14 kg); và các thành phần khác chiếm 6,7% (0,10 kg).

4. Đơn vị nào phụ trách thu gom rác tại xã Bình Thành, sử dụng phương tiện gì và vận chuyển đi đâu?
Đơn vị đảm nhận là Công ty TNHH TM&XD Hưng Lộc Tiến (ký hợp đồng với UBND xã Bình Thành). Đơn vị chỉ sử dụng 01 xe hoa lâm chuyên dụng do 01 công nhân vận hành, thực hiện thu gom 3 lần/tuần trên 3 tuyến đường và vận chuyển toàn bộ lượng rác thu gom được về xử lý tại Bãi rác xã Tân Thanh.

5. Các hộ dân chưa tham gia dịch vụ thu gom (85% số hộ) tự xử lý chất thải rắn bằng những hình thức nào?
Theo kết quả khảo sát 96 hộ ngoài tuyến thu gom: 56,3% số hộ (53 hộ) chọn hình thức đốt rác ngoài trời; 25,0% số hộ (24 hộ) vứt rác trực tiếp xuống sông, kênh rạch hoặc khu đất trống gần nhà; 13,5% số hộ (13 hộ) tự đào hố chôn lấp trong khuôn viên đất vườn; và 5,2% số hộ (5 hộ) tự vận chuyển rác đến các điểm có tuyến xe đi qua.

Kết luận

Đồ án tốt nghiệp của tác giả Lê Thị Thu Ngọc đã phản ánh toàn diện bức tranh hiện trạng quản lý CTRSH tại xã Bình Thành, huyện Giồng Trôm với tỷ lệ thu gom tập trung chỉ đạt 15% và tổng lượng phát sinh đạt 8.195,96 kg/ngày. Nghiên cứu đã chỉ rõ các nút thắt về cơ sở vật chất, năng lực vận chuyển hạn chế và thói quen đốt, xả rác bừa bãi của 85% hộ dân ngoài tuyến thu gom. Các nhóm giải pháp phân loại tại nguồn, chuẩn hóa thùng chứa, mở rộng tuyến thu gom và áp dụng kỹ thuật ủ rác hữu cơ thành phân compost do tác giả đề xuất là cơ sở khoa học và thực tiễn quan trọng giúp chính quyền địa phương hoàn thiện tiêu chí môi trường trong xây dựng nông thôn mới.