CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu 1. Các công trình nghiên cứu trên Thế giới BĐKH đã được nhà khoa học Arrhenius người Thụy Điển, đề cập đến lần đầu tiên vào năm 1896.
Ông cho rằng sự đốt cháy nhiên liệu hóa thạch sẽ dẫn đến khả năng cao hiện tượng nóng lên toàn cầu. Đến cuối thập niên 1980, khi nhiệt độ bắt đầu tăng lên, các nghiên cứu về hiện tượng nóng lên toàn cầu được các nhà khoa học bắt đầu quan tâm nhiều hơn. Ủy ban liên chính phủ về BĐKH (IPCC) được ra đời do Tổ chức Khí tượng Thế giới (WMO) cùng với Chương trình Môi trường Liên hiệp quốc (UNEP) đồng thành lập (năm 1988) nhằm đánh giá "các thông tin khoa học, kỹ thuật và KT - XH cho phép tìm hiểu các nguy cơ của BĐKH do con người gây ra”. Kể từ đó đến nay nhiều tổ chức quốc tế và các nhà khoa học trên thế giới đã tập trung vào đánh giá tác động của BĐKH tại các khu vực, vùng lãnh thổ và đặc biệt là tại quốc gia được dự báo là sẽ hứng chịu nhiều rủi ro nhất do BĐKH trong đó có Việt Nam.
Sự ra đời của IPCC vào thập kỷ 1980 đã đánh dấu bước quan trọng về nhận thức và hành động của toàn thế giới trước thảm họa BĐKH toàn cầu. Là một tổ chức tiêu biểu, tập hợp trí tuệ từ nhiều các nhà khoa học từ nhiều các quốc gia trên thế giới, IPCC đã tổng hợp hàng loạt các nghiên cứu từ nguyên nhân đến hệ quả (sự tăng nhiệt độ bề mặt trái đất, sự tăng lên của mực nước biển, cùng với những biến đổi về thời tiết, thủy văn, hải dương.), từ tác động của nó đối với tự nhiên, môi trường, các đối tượng KT – XH đến việc xây dựng giải pháp thích ứng và chiến lược ứng phó toàn cầu. Các báo cáo của IPCC là cơ sở cho các hội nghị toàn cầu về BĐKH như Hội nghị Thượng đỉnh của LHQ về Môi trường và Phát triển ở Rio de Janeiro,1992; Hội nghị các bên nước tham gia UNFCCC (từ COP 1 đến COP 18)… Qua các báo cáo của IPCC, từ cuối thế kỷ XIX đến nay có thể nhận thấy được xu thế chung là nhiệt độ trung bình toàn cầu đã tăng lên đáng kể. Nhiệt độ không khí trung bình toàn cầu trong thế kỷ XX đã tăng lên 0,6oC (+/- 0,2oC); trên đất liền, nhiệt độ tăng nhiều hơn trên biển; thập kỷ 90 là thập kỷ nóng nhất trong thiên niên kỷ vừa qua (IPCC, 2001).
Công trình nghiên cứu đầy đủ nhất về hậu quả của sự biến đổi khí hậu do Tổ chức Y tế Thế giới thực hiện năm 2002 đưa ra báo cáo rằng các dịch bệnh nguy hiểm đang lan tràn ở nhiều nơi trên thế giới hơn bao giờ hết. Những vùng trước kia có khí hậu lạnh 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com giờ đây cũng xuất hiện các loại bệnh nhiệt đới. Hàng năm, có khoảng 150 nghìn người chết do các bệnh có liên quan đến BĐKH, từ bệnh tim do nhiệt độ tăng quá cao, đến các vấn đề hô hấp và tiêu chảy, sốt rét.(The World Health Organization,2002) Theo Nicolas Sterm - chuyên gia kinh tế hàng đầu của Ngân hàng Thế giới (WB), thì trong vòng 10 năm tới, chi phí thiệt hại do BĐKH gây ra cho toàn thế giới ước tính khoảng 7.000 tỉ USD; nếu chúng ta không làm gì để ứng phó thì thiệt hại mỗi năm sẽ chiếm khoảng 5 - 20% tổng sản phẩm nội địa (GDP), còn nếu chúng ta có những ứng phó tích cực để ổn định KNK ở mức 550 ppm tới năm 2030 thì chi phí chỉ còn khoảng 1% GDP (Nicholas Stern, 2007). Các nhà khoa học tại Viện Công nghệ Georgia tại Atlanta (Georgia, Mỹ) và Trung tâm nghiên cứu khí quyển quốc gia tại Boulder (Colorado, Mỹ) vừa phân tích một loạt số liệu thống kê những trận bão nhiệt đới trên toàn cầu, kể từ khi con người bắt đầu ghi lại được các dữ liệu vệ tinh về bão.
Kết quả cho thấy thời gian gần đây, có sự tăng trưởng số lượng cơn bão loại 4 và 5 (tức là những cơn bão mạnh có thể gây lở đất) trên hệ thống đo Saffir - Simpson. Cụ thể từ năm 1975 đến 1989, có 171 cơn bão lớn, nhưng từ năm 1990 đến 2004 tăng lên 269 cơn. Thiệt hại xảy ra nhiều nhất với những trận bão thuộc cấp 3 có sức gió từ 111 đến 130 dặm một giờ (1 dặm = 1,6km) và những trận bão có sức gió cao hơn. Tổn thất kinh tế toàn cầu năm 2005 do bão gây ra vượt quá 200 tỷ USD.
Trong khi đó, tổn thất vì bão năm 2004 chỉ ở mức 145 tỷ USD. Nếu khí hậu tiếp tục nóng thì chúng ta sẽ có thêm nhiều trận bão nhiệt đới dữ dội hơn. Schellnhuber, 2008) Hạn hán cũng nghiêm trọng ở nhiều khu vực ở châu Á. Tại Trung Quốc, nhiều khu vực, đặc biết là các tỉnh Tây Nam, đang trải qua những ngày khô hạn nghiêm trọng nhất thế kỷ qua.
Ở Pakistan, nhất là tại Southern Punjab, đất đai nứt nẻ và sông ngòi cạn trơ đáy. Thay đổi khí hậu đang đe dọa nhiều khu vực ở vùng Trung Á rộng lớn. Những dòng sông băng tan chảy do nhiệt độ trái đất tăng lên đã làm giảm nghiêm trọng nguồn nước, dẫn đến tình trạng hạn hán không chỉ ở Tajikistan mà cả ở các nước hạ nguồn Uzbekistan và Turkmenistan. Các nước này đang chuẩn bị tinh thần sớm phải trải qua những vụ mùa thất thu, dự trữ lương thực giảm nghiêm trọng và nguy cơ xảy ra nạn đói.
Trong khi đó, Nga đã gọi đây là “mối quan ngại thực sự” và lo ngại thay đổi khí hậu ở Trung Á đe dọa Nga từ phía Nam. Schellnhuber, 2008) 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Là một quốc gia nằm trong vùng trũng, với ¼ diện tích đất liền thấp hơn mực nước biển, Hà Lan đang phải đối mặt với những rủi ro gay gắt về BĐKH. Những rủi ro này được kiểm soát nhờ một mạng lưới kênh rạch, bơm thủy lợi và đê điều rộng lớn. Hệ thống đê điều được thiết kế để trụ vững được trước diễn biến thời tiết mà có khả năng xảy ra đúng một lần trong suốt 1000000 năm.
Trong phạm vi các nước Đông Nam Á, cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu được công bố. Năm 2010, Phan Văn Tân và một số tác giả đã nghiên cứu xu thế giáng thủy ngày cực đại từ năm 1961 đến năm 1998 cho khu vực Đông Nam Á và nam Thái Bình Dương. Kết quả cho thấy số ngày mưa (ngày có lượng mưa từ 2mm trở lên) nhìn chung giảm đáng kể ở khu vực Đông Nam Á. Phân tích số liệu giáng thủy ngày ở các nước khu vực Đông Nam Á trong thời kỳ từ 1950 đến 2000, đã chỉ ra rằng số ngày ẩm ướt (ngày có giáng thủy trên 1mm) có xu thế giảm ở hầu hết các nước này, trong khi đó cường độ giáng thủy trung bình của những ngày ẩm ướt lại có xu thế tăng lên.
Số ngày khô liên tiếp cực đại năm có xu thế giảm ở những khu vực bị ảnh hưởng bởi giáng thủy trong thời kỳ gió mùa mùa đông. Sự giảm hiện tượng mưa trong thời kỳ mùa khô cũng được tìm thấy ở Myanma. Mối quan tâm đối với công tác thích ứng tại Nhật Bản lên đỉnh điểm vào năm 2004 khi nước này chịu tới 10 cơn bão nhiệt đới đổ bộ. Tổng thiệt hại lên đến 14 tỷ đô la Mỹ, trong đó khoảng một nửa là do bảo hiểm chi trả.
Chính phủ Nhật Bản đã lên các kế hoạch xây dựng các hệ thống phòng ngừa lũ lụt nhằm đối phó với nguy cơ mực nước biển có thể dâng lên 1m trong thế kỷ 21 và có tổng mức đầu tư ước tỉnh 93 tỷ đô là Mỹ. Ở miền Bắc Kê ni-a, hạn hán thường xuyên xảy ra khiến cho nhiều người phụ nữ phải đi bộ xa hơn để lấy nước sinh hoạt, thường là 10-15 km một ngày. Vùng Tây Bengal, Ấn Độ, những người phụ nữ sống trong các ngôi làng châu thổ song Hằng đang phải dựng lên những tháp cao bằng tre gọi là machan để làm chỗ lánh nạn khi lũ lụt kéo đến. Các công trình nghiên cứu ở Việt Nam Cho đến nay đã có nhiều tác giả và công trình nghiên cứu về BĐKH và tri thức bản địa thích ứng với BĐKH trong và ngoài nước khác nhau Reiner và các cộng sự (2004) đã công bố một nghiên cứu trên mô hình toán thuỷ lực để phỏng đoán các diễn biến ngập lũ ở ĐBSCL trong thời đoạn tháng 8 đến tháng 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 11 với kịch bản mực nước biển dâng 20cm và 50cm.
Kết quả cho thấy, đường đồng mức ngập lũ sẽ mở rộng tương ứng với mức nước dâng 20cm và 50cm sẽ là 25km và 50km về phía hạ du Mekong. Ở giai đoạn đầu của lũ (tháng 8), mực nước trung bình vùng ĐBSCL sẽ gia tăng thêm 14. Đến kỳ đỉnh lũ (tháng 10), mức gia tăng mức ngập tương ứng này sẽ là 11.4 cm Hanh và Furukawa (2007) dựa vào những ghi nhận ở trạm đo thuỷ triều ở Việt Nam để kết luận về những bằng chứng của sự dâng lên của mực nước biển: Trung bình mỗi năm mực nước biển ở Việt Nam đã tăng trong khoảng 1. Dasgupta và các cộng sự (2007) cũng công bố một nghiên cứu chính sách (do Ngân hàng Thế giới xuất bản) đã xếp Việt Nam nằm trong nhóm 5 quốc gia chịu ảnh hưởng cao nhất do biến đổi khí hậu.
Báo cáo “Phát triển bền vững miền núi Việt Nam – mười năm nhìn lại và các vấn đề đặt ra” của Trung Tâm nghiên cứu tài nguyên và môi trường – Đại học quốc gia Hà nội. Các nghiên cứu trong báo cáo này nói về phát triển miền núi Việt Nam, các vấn đề kinh tế, xã hội, văn hóa và môi trường; phát triển kinh tế, xã hội miền núi 10 năm qua và các vấn đề đặt ra; môi trường miền núi Việt Nam 10 năm qua: Văn hóa các dân tộc thiểu số miền núi Việt nam. Các lĩnh vực cụ thể như: dân số, phát triển nông lâm nghiệp, kết cấu hạ tầng, phát triển công nghiệp và đô thị hóa, thương mại và thị trường miền núi, chính sách đầu từ và phát triển miền núi, các thành phần kinh tế, định canh định cư, xóa đói giảm nghèo, an ninh lương thực, y tế, giáo dục, giới, văn hóa các dân tộc và các vấn đề môi trường, bảo vệ thiên nhiên, đa dạng sinh học, quản lý rừng cộng đồng.