CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ THUƠNG MẠI ĐIỆN TỬ VÀ THANH TOÁN TRONG THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ 1. Khái quát về thanh toán trong TMĐT 1. Khái niệm TMĐT và thanh toán trong TMĐT a. Khái niệm TMĐT TMĐT được biết đến với nhiều tên gọi khác nhau như “thương mại điện tử” (Electronic Commerce), “thương mại trực tuyến” (Online Trade), “thương mại không giấy tờ” (Paperless Commerce), hoặc “kinh doanh điện tử” (E-business).
Tuy nhiên, “thương mại điện tử” vẫn là tên gọi phổ biến nhất, được sử dụng thống nhất trong các văn bản hay công trình nghiên cứu. Cho đến hiện tại có nhiều khái niệm, định nghĩa khác nhau về thương mại điện tử. Các định nghĩa này xem xét theo các quan điểm, khía cạnh khác nhau. Sau đây là một số khái niệm về thương mại điện tử: Khái niệm TMĐT theo nghĩa hẹp: Theo nghĩa hẹp, TMĐT là việc mua bán hàng hóa và dịch vụ thông qua các phương tiện điện tử và mạng viễn thông, đặc biệt là máy tính và internet.
Cách hiểu này tương tự với một số các quan điểm như: - Thương mại điện tử là việc hoàn thành bất kỳ một giao dịch nào thông qua một mạng máy tính làm trung gian mà bao gồm việc chuyển giao quyền sở hữu hay quyền sử dụng hàng hoá và dịch vụ (Cục Thống kê Hoa kỳ, 2000). - Thương mại điện tử là các giao dịch thương mại về hàng hoá và dịch vụ được thực hiện thông qua các phương tiện điện tử (Diễn đàn đối thoại xuyên Đại tây dương, 1997). Khái niệm TMĐT theo nghĩa rộng: Theo nghĩa rộng có nhiều định nghĩa khác nhau về thương mại điện tử như thương mại điện tử là toàn bộ chu trình và các hoạt động kinh doanh liên quan đến các tổ chức, cá nhân hay thương mại điện tử là việc tiến hành hoạt động thương mại sử dụng các phương tiện điện tử và công nghệ xử lý thông tin số hoá. Đã có nhiều tổ chức quốc tế đưa ra khái niệm TMĐT theo nghĩa rộng: - Liên minh châu Âu EU định nghĩa thương mại điện tử bao gồm các giao dịch thương mại thông qua các mạng viễn thông và sử dụng các phương tiện điện tử.
Nó LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 bao gồm thương mại điện tử gián tiếp (trao đổi hàng hoá hữu hình) và thương mại điện tử trực tiếp (trao đổi hàng hoá vô hình). - Tổ chức thuơng mại thế giới WTO định nghĩa thương mại điện tử bao gồm việc sản xuất, quảng cáo, bán hàng và phân phối sản phẩm được mua bán và thanh toán trên mạng Internet, nhưng được giao nhận có thể hữu hình hoặc giao nhận qua Internet dưới dạng số hoá. - Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế OECD cho rằng thương mại điện tử là việc làm kinh doanh thông qua mạng Internet, bán những hàng hoá và dịch vụ có thể được phân phối không thông qua mạng hoặc những hàng hoá có thể mã hoá bằng kỹ thuật số và được phân phối thông qua mạng hoặc không thông qua mạng. Thương mại điện tử cũng được hiểu là hoạt động kinh doanh điện tử, bao gồm: mua bán điện tử hàng hoá, dịch vụ, giao hàng trực tiếp trên mạng với các nội dung số hoá được; chuyển tiền điện tử - EFT (electronic fund transfer); mua bán cổ phiếu điện tử - EST (electronic share trading); vận đơn điện tử - E B/L (electronic bill of lading); đấu giá thương mại - Commercial auction; hợp tác thiết kế và sản xuất; tìm kiếm các nguồn lực trực tuyến; mua sắm trực tuyến - Online procurement; marketing trực tiếp, dịch vụ khách hàng sau khi bán.
UNCTAD (Tổ chức Liên hợp quốc về Hợp tác và Phát triển kinh tế) định nghĩa về thương mại điện tử là việc thực hiện toàn bộ hoạt động kinh doanh bao gồm marketing, bán hàng, phân phối và thanh toán thông qua các phương tiện điện tử. Khái niệm này đã đề cập đến toàn bộ hoạt động kinh doanh chứ không chỉ giới hạn ở riêng mua và bán, được viết tắt bởi 4 chữ MSDP, trong đó: M – Marketing (có trang web hoặc xúc tiến thương mại qua internet) S – Sales (có trang web hỗ trợ chức năng giao dịch, ký kết hợp đồng) D – Distribution (Phân phối sản phẩm số hóa qua mạng) P – Payment (Thanh toán qua mạng hoặc thông qua bên trung gian như ngân hàng) Đây có thể coi là định nghĩa đầy đủ nhất về TMĐT để các nước có thể tham khảo làm chuẩn, tạo cơ sở xây dựng chiến lược phát triển thương mại điện tử phù hợp. Khái niệm thanh toán trong TMĐT LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 Theo nghĩa rộng: Thanh toán điện tử là việc thanh toán thông qua các thông điệp điện tử thay cho việc trao tay tiền mặt (Theo báo cáo quốc gia về kỹ thuật Thương mại điện tử của Bộ Thương mại) Theo nghĩa hẹp: Thanh toán trong thương mại điện tử có thể hiểu là việc trả tiền và nhận tiền cho các hàng hóa và dịch vụ được mua bán trên Internet 1. Vai trò của thanh toán trong TMĐT Cùng với các hoạt động khác như thư tín điện tử, trao đổi dữ liệu điện tử., hoạt động thanh toán điện tử là một yếu tố rất quan trọng đóng vai trò thúc đẩy thương mại điện tử phát triển thuận lợi, tăng quá trình lưu thông tiền tệ và hàng hóa, giảm thời gian và rủi ro trong quá trình thực hiện giao dịch TMĐT và hiện đại hóa hệ thống thanh toán.
- Hoàn thiện và phát triển thương mại điện tử Xét trên nhiều phương diện, thanh toán trực tuyến là nền tảng của các hệ thống thương mại điện tử. Sự khác biệt cơ bản giữa thương mại điện tử với các ứng dụng khác cung cấp trên Internet chính là nhờ khả năng thanh toán trực tuyến này. Do vậy, việc phát triển thanh toán trực tuyến sẽ hoàn thiện hóa thương mại điện tử, để thương mại điện tử được theo đúng nghĩa của nó – các giao dịch hoàn toàn qua mạng, người mua chỉ cần thao tác trên máy tính cá nhân của mình để mua hàng, các doanh nghiệp có những hệ thống xử lý tiền số tự động. Một khi thanh toán trong thương mại điện tử an toàn, tiện lợi, việc phát triển thương mại điện tử trên toàn cầu là một điều tất yếu với dân số đông đảo và không ngừng tăng của mạng Internet.
- Tăng quá trình lưu thông tiền tệ và hàng hóa Thanh toán trong thương mại điện tử với ưu điểm đẩy mạnh quá trình lưu thông tiền tệ và hàng hóa. Người bán hàng có thể nhận tiền thanh toán qua mạng tức thì, do đó có thể yên tâm tiến hành giao hàng một cách sớm nhất, sớm thu hồi vốn để đầu tư tiếp tục sản xuất. - Giảm thời gian và rủi ro cho các giao dịch TMĐT Thanh toán điện tử giúp thực hiện thanh toán nhanh, an toàn, đảm bảo quyền lợi cho các bên tham gia thanh toán, hạn chế rủi ro so với thanh toán bằng tiền mặt, mở rộng thanh toán không dùng tiền mặt, tạo lập thói quen mới trong dân chúng về thanh toán hiện đại. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 - Hiện đại hoá hệ thống thanh toán Tiến cao hơn một bước, thanh toán điện tử tạo ra một loại tiền mới, tiền số hóa, không chỉ thỏa mãn các tài khoản tại ngân hàng mà hoàn toàn có thể dùng để mua hàng hóa thông thường.
Quá trình giao dịch được đơn giản và nhanh chóng, chi phí giao dịch giảm bớt đáng kể và giao dịch sẽ trở nên an toàn hơn. Tiền số hóa không chiếm một không gian hữu hình nào mà có thể chuyển một nửa vòng trái đất chỉ trong chớp mắt bằng thời gian của ánh sáng. Đây sẽ là một cơ cấu tiền tệ mới, một mạng tài chính hiện đại gắn liền với mạng Internet. Các phương thức thanh toán phổ biến trong TMĐT Các phương thức thanh toán trực tuyến phổ biến hiện nay bao gồm: - Thẻ thanh toán - Thẻ thông minh - Ví điện tử - Tiền điện tử - Thanh toán qua điện thoại di động - Thanh toán điện tử tại các kiốt bán hàng - Séc điện tử - Thẻ mua hàng - Thư tín dụng điện tử - Chuyển tiền điện tử (EFT – Electronic Fund Transfering) Trong các phương tiện thanh toán điện tử trên, thì thẻ thanh toán được coi là phương tiện phổ biến nhất, đặc biệt là thẻ tín dụng do tính tiện lợi và phổ dụng của nó (nhất là tại Mỹ và các nước phát triển).
Ba loại thẻ thanh toán phổ biến gồm: thẻ tín dụng (credit card, là thẻ cho phép chủ thẻ chi tiêu tới một hạn mức tín dụng nhất định), thẻ ghi nợ (debit card, là thẻ chi tiêu dựa trên số dư tài khoản thẻ hay tài khoản tiền gửi) và thẻ mua hàng (charge card, là thẻ cho phép chủ thẻ chi tiêu và tiến hành thanh toán các khoản chi tiêu đó định kỳ, thường vào cuối tháng). Các nhà cung cấp thẻ nổi tiếng và được chấp nhận nhất hiện nay là Visa, MasterCard, American Express Card và EuroPay. Trong 3 loại thẻ trên, thanh toán bằng thẻ tín dụng chiếm khoảng 90% tổng giá trị các giao dịch qua mạng Internet. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
TMĐT trong giao dịch B2C a. Các dịch vụ ngân hàng được sử dụng trong thanh toán B2C A. Dịch vụ ATM Thẻ ATM thực chất là một thẻ để khách hàng có thể giao dịch trên máy ATM, tuy nhiên theo nghĩa ngược lại là các thẻ giao dịch được trên máy ATM lại không phải là thẻ ATM, nó là thẻ ghi nợ, thẻ tín dụng.Ngoài ra hiện nay ở Việt Nam, thẻ ATM cũng không phải chỉ để giao dịch trên các máy ATM thuần tuý, nó còn được giao dịch tại rất nhiều các thiết bị POS mà ngân hàng phát hành triển khai tại các điểm chấp nhận thanh toán nó thông qua hợp đồng chấp nhận thẻ đó. Việc thực hiện các giao dịch này tại điểm chấp nhận thanh toán phải có 2 điều kiện : Đó là điểm chấp nhận này đã có hợp đồng chấp nhận thanh toán thẻ này với ngân hàng phát hành hoặc là đại lý thanh toán của ngân phát hành và được ngân hàng trang bị loại máy thanh toán phù hợp, thứ hai là khách hàng khi thực hiện giao dịch phải nhập mã số cá nhân của mình (PIN), chính vì phải nhập mã số cá nhân nên việc được trang bị loại máy phù hợp mới có thể thực hiện được giao dịch, do có nhiều loại máy hiện không cho phép khách hàng nhập mã số cá nhân vào máy.
Máy ATM là loại máy thực hiện nhiều loại giao dịch ngân hàng một cách tự động mà ngân hàng triển khai máy cho phép.