Luận văn: Nâng cao hiệu quả tạo vốn và đầu tư tại các công ty bảo hiểm nhân thọ

Luận văn phân tích thực trạng, đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả tạo vốn và đầu tư tài chính tại các công ty bảo hiểm nhân thọ Việt Nam.

Chuyên ngành

Kinh tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2006

94
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

DANH MỤC BẢNG BIỂU

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BẢO HIỂM VÀ QUẢN LÝ VỐN TRONG CÁC DOANH NGHIỆP BẢO HIỂM

1.1. TỔNG QUAN VỀ BẢO HIỂM

1.1.1. Lịch sử ra đời và phát triển của bảo hiểm nhân thọ trên thế giới

1.1.2. Đặc điểm của bảo hiểm

1.1.2.1. Khái niệm về bảo hiểm
1.1.2.2. Sự cần thiết của đầu tư vốn tại các doanh nghiệp bảo hiểm

1.1.3. Cơ sở kỹ thuật của bảo hiểm

1.1.3.1. Quy luật số đông
1.1.3.2. Phương pháp thống kê

1.1.4. Phân loại nghiệp vụ bảo hiểm

1.1.4.1. Bảo hiểm nhân thọ
1.1.4.2. Bảo hiểm phi nhân thọ

1.1.5. Tính tất yếu khách quan của bảo hiểm đối với đời sống kinh tế xã hội

1.2. TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG VỐN TRONG DOANH NGHIỆP BẢO HIỂM

1.2.1. Tổng quan về quản lý và sử dụng vốn trong doanh nghiệp bảo hiểm

1.2.1.1. Nguồn vốn đầu tư trong doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam
1.2.1.2. Nguyên tắc đầu tư vốn trong doanh nghiệp bảo hiểm

1.2.2. Danh mục đầu tư tài chính trong doanh nghiệp bảo hiểm

1.2.3. Hoạt động đầu tư vốn của các công ty bảo hiểm ở một số nước

1.2.3.1. Các quy định về pháp lý
1.2.3.2. Cơ cấu đầu tư và sự thay đổi cấu trúc đầu tư trên thị trường BHNT

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VIỆC TẠO LẬP, QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG VỐN CỦA CÁC DOANH BẢO HIỂM NHÂN THỌ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

2.1. THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM VIỆT NAM

2.1.1. Khái quát sự ra đời vào phát triển của thị trường bảo hiểm Việt Nam

2.1.2. Thị trường bảo hiểm Việt Nam hiện nay

2.2. THỰC TRẠNG VIỆC TẠO LẬP, QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG VỐN CỦA CÁC DOANH NGHIỆP BẢO HIỂM NHÂN THỌ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

2.2.1. Vấn đề tạo lập vốn trong doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm nhân thọ tại Việt Nam hiện nay

2.2.1.1. Nguồn gốc hình thành vốn nhàn rỗi trong doanh nghiệp bảo hiểm
2.2.1.2. Nội dung dự phòng nghiệp vụ đối với doanh nghiệp kinh doanh BHNT
2.2.1.3. Một số tồn tại trong quy định về trích lập dự phòng bảo hiểm nhân thọ

2.2.2. Thực trạng đầu tư vốn trên thị trường tài chính của các doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm nhân thọ

2.2.2.1. Cơ sở pháp lý điều chỉnh hoạt động đầu tư vốn của các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ ở Việt Nam
2.2.2.2. Thực trạng đầu tư trên thị trường tài chính của các doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam trong thời gian qua

2.3. ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ CÔNG TÁC TẠO LẬP VÀ ĐẦU TƯ VỐN CỦA CÁC DOANH NGHIỆP BẢO HIỂM NHÂN THỌ Ở VIỆT NAM

2.3.1. Kết quả của hoạt động tạo lập vốn

2.3.1.1. Thực trạng tạo lập vốn từ người tham gia bảo hiểm
2.3.1.2. Thực trạng tạo lập vốn từ nội bộ doanh nghiệp bảo hiểm

2.3.2. Những đánh giá chung trong việc quản lý và sử dụng vốn

2.3.2.1. Những thành tích
2.3.2.2. Những tồn tại

3. CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO KHẢ NĂNG TẠO LẬP VỐN VÀ HIỆU QUẢ CÔNG TÁC ĐẦU TƯ TÀI CHÍNH TẠI CÁC CÔNG TY BẢO HIỂM NHÂN THỌ Ở VIỆT NAM

3.1. QUAN ĐIỂM ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM VIỆT NAM

3.1.1. Theo xu hướng tất yếu của quá trình hội nhập quốc tế

3.1.2. Theo mục tiêu phát triển thị trường bảo hiểm ở Việt Nam

3.1.3. Những cơ hội và thách thức

3.2. GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO KHẢ NĂNG TẠO LẬP VỐN VÀ HIỆU QUẢ CÔNG TÁC ĐẦU TƯ TÀI CHÍNH TẠI CÁC CÔNG TY BẢO HIỂM NHÂN THỌ Ở VIỆT NAM

3.2.1. Các giải pháp ở tầm vĩ mô

3.2.2. Các giải pháp về phía doanh nghiệp bảo hiểm

3.2.3. Các giải pháp hỗ trợ khác

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Khái niệm và tầm quan trọng của tạo vốn trong bảo hiểm nhân thọ

Tạo vốn và đầu tư là những hoạt động then chốt trong quản lý tài chính của các công ty bảo hiểm nhân thọ. Vốn nhàn rỗi được hình thành từ những khoản phí bảo hiểm và dự phòng nghiệp vụ mà các công ty bảo hiểm tích lũy được. Những giải pháp tạo vốn hiệu quả giúp doanh nghiệp bảo hiểm tăng cường năng lực tài chính, đáp ứng nhu cầu bồi thường của khách hàng và phát triển bền vững. Việc quản lý vốn thông minh không chỉ đảm bảo sự ổn định của công ty mà còn tạo ra những cơ hội sinh lợi nhuận từ đầu tư tài chính. Trong bối cảnh thị trường bảo hiểm Việt Nam ngày càng cạnh tranh, việc nâng cao khả năng tạo lập vốn trở nên vô cùng cần thiết để doanh nghiệp bảo hiểm duy trì vị thế và phát triển lâu dài.

1.1. Nguồn gốc vốn nhàn rỗi trong doanh nghiệp bảo hiểm

Vốn nhàn rỗi xuất phát từ ba nguồn chính: thứ nhất là phí bảo hiểm thu từ những người tham gia bảo hiểm; thứ hai là dự phòng nghiệp vụ được trích lập theo quy định pháp luật; thứ ba là lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh của công ty. Những khoản vốn này không được sử dụng ngay mà được tích trữ để đảm bảo thanh khoản, bồi thường bảo hiểm và phát triển kinh doanh trong tương lai.

1.2. Sự cần thiết của đầu tư vốn hiệu quả

Đầu tư tài chính giúp công ty bảo hiểm tạo ra nguồn thu nhập bổ sung, nâng cao lợi suất tổng thể. Thông qua giải pháp đầu tư đa dạng như chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu, cổ phiếu, bất động sản, công ty có thể tối đa hóa giá trị vốn và tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường.

II. Thực trạng tạo lập và quản lý vốn tại các công ty bảo hiểm nhân thọ Việt Nam

Thị trường bảo hiểm nhân thọ Việt Nam đã có những bước tiến đáng kể kể từ năm 1994 khi ngành bảo hiểm khôi phục lại sau giai đoạn chiến tranh. Tuy nhiên, việc tạo lập vốn tại các công ty bảo hiểm vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế. Doanh thu phí bảo hiểm từ năm 1994 đến 2005 đã tăng liên tục, nhưng khả năng quản lý và sử dụng vốn lại không tương xứng. Nhiều công ty bảo hiểm chưa tận dụng tối đa những cơ hội đầu tư trên thị trường tài chính. Các quy định pháp lý về trích lập dự phòng nghiệp vụ đôi khi còn chưa rõ ràng, dẫn đến những bất cập trong quản lý. Sự thiếu hiểu biết về chiến lược đầu tư và rủi ro thị trường cũng hạn chế khả năng của các doanh nghiệp bảo hiểm trong việc sử dụng vốn hiệu quả.

2.1. Cơ sở pháp lý điều chỉnh hoạt động đầu tư

Các công ty bảo hiểm nhân thọ hoạt động dựa trên nền tảng pháp luật do Nhà nước qui định. Tuy nhiên, những quy định về đầu tư còn cần được hoàn thiện thêm để phù hợp với tình hình thị trường hiện đại. Các danh mục đầu tư cho phép như chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu Chính phủ, cổ phiếu cần được mở rộng và rõ ràng hơn để khuyến khích doanh nghiệp bảo hiểm đầu tư sáng tạo.

2.2. Tình hình đầu tư tài chính của các doanh nghiệp bảo hiểm

Các công ty lớn như Bảo Việt, Prudential Việt Nam, Bảo Minh CMG đã có những kết quả đầu tư khả quan với lợi suất đạt từ 8-15% hàng năm. Tuy nhiên, nhiều công ty nhỏ hơn vẫn chủ yếu đầu tư vào chứng chỉ tiền gửi và trái phiếu, chưa đủ can đảm tiếp cận những giải pháp đầu tư mới và rủi ro cao hơn.

III. Các giải pháp nâng cao khả năng tạo lập vốn ở tầm vĩ mô

Để nâng cao khả năng tạo lập vốn và hiệu quả đầu tư tài chính của các công ty bảo hiểm nhân thọ, cần có những giải pháp tổng thể từ phía Nhà nước và cơ quan quản lý. Thứ nhất, cần hoàn thiện khung pháp lý cho ngành bảo hiểm, rõ ràng hóa các quy định về trích lập dự phòng và danh mục đầu tư cho phép. Thứ hai, cần khuyến khích sự hội nhập quốc tế, cho phép các công ty bảo hiểm nước ngoài tham gia thị trường để tạo áp lực cạnh tranh lành mạnh. Thứ ba, Nhà nước cần tạo điều kiện phát triển thị trường tài chính, đặc biệt là thị trường chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu, cổ phiếu để doanh nghiệp bảo hiểm có nhiều kênh đầu tư chọn lựa. Cuối cùng, cần cải thiện môi trường kinh doanh, giảm bớt những yêu cầu hành chính và tạo sự minh bạch trong hoạt động bảo hiểm.

3.1. Hoàn thiện khung pháp lý và quy định

Chính phủ cần ban hành các quy định chi tiết về danh mục đầu tư cho các công ty bảo hiểm nhân thọ, tương tự như các nước Trung Quốc, Indonesia, Hồng Kông. Cần rõ ràng hóa tỷ lệ tối thiểu và tối đa cho mỗi loại tài sản, giúp công ty bảo hiểm có hướng dẫn cụ thể trong tạo lập vốnđầu tư tài chính.

3.2. Phát triển thị trường tài chính và mở rộng kênh đầu tư

Cần phát triển mạnh mẽ thị trường chứng khoán, thị trường trái phiếu doanh nghiệp, và thị trường bất động sản để tạo cơ hội đầu tư đa dạng. Các giải pháp này sẽ giúp công ty bảo hiểm phân tán rủi ro, tối ưu hóa danh mục đầu tư và tăng lợi suất tổng thể từ hoạt động tạo vốn.

IV. Các giải pháp nâng cao khả năng tạo lập vốn ở tầm doanh nghiệp

Bên cạnh những giải pháp ở tầm vĩ mô, các công ty bảo hiểm nhân thọ cần có những chiến lược nội bộ để nâng cao khả năng tạo lập vốnhiệu quả đầu tư tài chính. Thứ nhất, cần xây dựng bộ phận quản lý đầu tư chuyên nghiệp, có kiến thức về thị trường tài chính, phân tích rủi ro và quản lý danh mục. Thứ hai, cần xây dựng chiến lược đầu tư rõ ràng, phù hợp với tình hình tài chính và khả năng chịu rủi ro của công ty. Thứ ba, cần đầu tư vào công nghệ thông tin, hệ thống quản lý tài chính hiện đại để nâng cao hiệu quả hoạt động. Thứ tư, cần tăng cường đào tạo nhân viên, nâng cao trình độ chuyên môn để tận dụng tối đa những giải pháp đầu tư mới. Cuối cùng, cần thiết lập những chỉ tiêu hiệu suất rõ ràng, giám sát chặt chẽ hoạt động đầu tư và tối ưu hóa lợi suất tài chính.

4.1. Xây dựng bộ phận đầu tư chuyên nghiệp

Các công ty bảo hiểm nhân thọ cần tuyển dụng những chuyên gia có kinh nghiệm trong quản lý đầu tư và phân tích tài chính. Bộ phận này sẽ chịu trách nhiệm phân tích thị trường, đánh giá rủi ro, và tạo lập các giải pháp đầu tư phù hợp. Đây là chìa khóa để nâng cao hiệu quả hoạt động tạo vốnđầu tư tài chính.

4.2. Xây dựng chiến lược đầu tư và giám sát rủi ro

Cần phát triển chiến lược đầu tư dài hạn, xác định rõ tỷ lệ phân bổ vốn cho các loại tài sản khác nhau. Phải thực hiện giám sát rủi ro liên tục, điều chỉnh danh mục đầu tư khi điều kiện thị trường thay đổi để đảm bảo lợi suất tối ưu và an toàn tài chính.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

22/12/2025
Tài liệu luận văn giải pháp nhằm nâng cao khả năng tạo lập vốn và hiệu quả công tác

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BẢO HIỂM VÀ QUẢN LÝ VỐN TRONG CÁC DOANH NGHIỆP BẢO HIỂM 1.1 TỔNG QUAN VỀ BẢO HIỂM 1.1 Lịch sử ra đời và phát triển của bảo hiểm nhân thọ trên thế giới Con người cùng các thể chế chính trị từng tồn tại trong lịch sử luôn đặt nhiệm vụ hạn chế rủi ro lên hàng đầu. Dịch vụ bảo hiểm ra đời để làm nhiệm vụ hạn chế rủi ro ấy. Ở Trung Hoa cách đây hơn 5.000 năm, lúc bấy giờ bọn cướp biển hoành hành khắp nơi; do vậy để hạn chế rủi ro, khi ra khơi người ta thường bố trí cho nhiều tàu chia nhau chở kèm một phần hàng hóa của một chiếc tàu khác, phòng khi có một chiếc tàu bị bọn cướp biển tấn công thì phần hàng còn lại chở trên những chiếc tàu kia không bị cướp. Cách nay gần 4.500 năm, ở một nơi khác là đế quốc Babylon cổ, các thương nhân thường phải du thương khá nhiều, và họ đã đối phó với các rủi ro bằng cách đem tiền cho người khác vay.

Khi việc vận chuyển hàng hóa đã hoàn tất một cách an toàn, các thương nhân này sẽ bắt người vay tiền hoàn trả khoản vay, kèm theo đó là tiền lời. Vào năm 2100 trước Công Nguyên, đạo luật Hammurabi ra đời đã đặt hoạt động cho vay của các doanh nhân vào khuôn khổ pháp luật. Đạo luật này đã chính thể hóa các khái niệm “bottomry” (chỉ việc mượn tiền trên cơ sở lấy tàu làm bảo đảm) và “respondentia” (chỉ hàng hóa vận chuyển bằng đường thủy). Các khái niệm này đã đặt nền móng cho thực hiện các hợp đồng bảo hiểm hàng hải.

Các hợp đồng loại này gồm 3 yếu tố: khoản vay căn cứ vào giá trị tàu, hàng hóa hay cước vận chuyển; lãi suất; khoản phụ thu cho các trường hợp mất mát có thể xảy ra. Trên thực tế, khi tham gia hợp đồng bảo hiểm, chủ tàu là người được bảo hiểm còn chủ cho vay là người đánh giá rủi ro. BHNT xuất hiện ở đế quốc La Mã cổ đại không lâu sau đó. Tại đây người ta đã lập nên các hội mai táng để lo chi phí tang ma cho các thành viên, ngoài ra hội Hướng dẫn khoa học: Tiến sĩ NGUYỄN TẤN HOÀNG Thực hiện: PHẠM THỊ NHƯ YẾN khoa luan, document8 of 138.

tai lieu, luan van9 of 138. Trang 8 cũng hỗ trợ tài chính cho thân nhân người chết. Khoảng năm 450 sau Công Nguyên, đế quốc La Mã sụp đổ dẫn đến việc hầu hết các khái niệm của BHNT bị lãng quên. Tuy nhiên các mặt, tính chất của nó thì vẫn không hề thay đổi trong suốt thời Trung Cổ, nhất là đối với các phường hội thủ công và thương nghiệp.

Các phường hội này đã lập nên nhiều hình thức bảo hiểm thành viên để bù đắp thiệt hại các vụ hỏa hoạn, lũ lụt, trộm cướp; ngoài ra còn có bảo hiểm thương tật, tử vong và thậm chí là bảo hiểm tù ngục (bảo hiểm cho trường hợp người mua bảo hiểm phải vào tù). Trong suốt thời phong kiến, các ngành du lịch và mậu dịch ngày càng suy yếu và không còn thịnh đạt như trước, do vậy các hình thức bảo hiểm sơ khai cũng bị mai một. Tuy nhiên trong khoảng thời gian từ thế kỷ 14 đến thế kỷ 16 các ngành giao thông, thương nghiệp và cả dịch vụ bảo hiểm đã phát triển trở lại. Dịch vụ bảo hiểm ở Ấn Độ bắt nguồn từ bộ kinh Veda của nước này.

Đơn cử là trường hợp của tập đoàn BHNT Yogakshema, một Công ty trực thuộc tổng hội liên hiệp bảo hiểm Ấn Độ. Tên của Công ty này được lấy từ trong kinh Rig Veda. Cụm từ Yogakshema cho thấy ở Ấn Độ vào khoảng năm 1.000 trước Công Nguyên, hình thức “bảo hiểm cộng đồng” đã phát triển rất thịnh hành và người Aryan khi đó cũng đã tham gia rất nhiều vào hình thức bảo hiểm này. Tương tự với đế quốc La Mã cổ đại, trong giai đoạn truyền bá đạo Phật người Ấn Độ đã lập nên nhiều hội mai táng để hỗ trợ cho các gia đình xây cất nhà cửa đồng thời che chở, đùm bọc các góa phụ và trẻ nhỏ.

Sau Cách Mạng ánh sáng (Glorious Revolution) năm 1688, ở Châu Âu chỉ có Vương Quốc Anh công nhận tính pháp lý của BHNT. Nhờ vậy mà trong suốt 3 thập kỷ sau Cách Mạng ánh sáng, ở Anh dịch vụ này đã phát triển rất mạnh mẽ. Hình thức bảo hiểm mà chúng ta thấy ngày nay có nguồn gốc từ thế kỷ 17. Khi đó ở Anh từng có một nơi gọi là Lloyd’s of London, nơi mà về sau người ta biết tới với cái tên Nhà hàng Cà phê Lloyd’s (Lloyd’s Coffee House).

Các thương nhân, chủ tàu và Hướng dẫn khoa học: Tiến sĩ NGUYỄN TẤN HOÀNG Thực hiện: PHẠM THỊ NHƯ YẾN khoa luan, document9 of 138. tai lieu, luan van10 of 138. Trang 9 các nhà thầu bảo hiểm khi đó hay tụ tập ở nhà hàng này để bàn công chuyện làm ăn và tiến hành các hợp đồng buôn bán. Mặc dù được sử dụng như một công cụ hạn chế rủi ro, dịch vụ BHNT vẫn bị cuốn vào trò đỏ đen vốn được xem là bản năng của tầng lớp tiểu tư sản Anh đang phát triển rất mạnh mẽ lúc bấy giờ.

Đến năm 1774, Quốc hội Anh ra sắc lệnh cấm tổ chức, tham gia cá cược trên ngày chết của con người, từ đó vấn nạn này mới chấm dứt. Ngành công nghiệp bảo hiểm của Hoa Kỳ được xây dựng trên mô hình bảo hiểm Anh. Vào năm 1735, Công ty bảo hiểm đầu tiên của Hoa Kỳ đã ra đời ở Charleston, thủ phủ bang South Carolina. Vào năm 1759, Hội nghị Giáo hội Trưởng lão Philadelphia đã quyết định bảo trợ cho tập đoàn BHNT đầu tiên của Hoa Kỳ.

Tập đoàn này hoạt động vì lợi ích của các mục sư và tín đồ. Ngày 22/5/1761, tập đoàn này đã ký kết được hợp đồng BHNT đầu tiên với công chúng Mỹ. Mặc dù vậy, mãi đến 80 năm sau (tức là sau năm 1840) dịch vụ BHNT Mỹ mới thật sự cất cánh. Chìa khóa dẫn đến thành công chính là nhờ các Công ty bảo hiểm đã hạn chế được những sự chống đối từ các nhóm tôn giáo.

Năm 1835, ở New York đã xảy ra một vụ hỏa hoạn đầy tai tiếng. Vụ hỏa hoạn này khiến người dân ở đây lưu tâm nhiều hơn đến nhu cầu phải có nguồn dự trữ để bù đắp cho những thiệt hại nghiêm trọng không thể lường trước. Hai năm sau, Massachusetts trở thành bang đầu tiên ở Mỹ sử dụng luật pháp buộc các Công ty phải tự tích lũy nguồn dự trữ này. Vụ cháy lớn ở Chicago vào năm 1871 càng nhấn mạnh sâu sắc một thực tế: nếu hỏa hoạn bùng lên ở những thành phố đông dân, mức độ thiệt hại sẽ vô cùng to lớn.

Hình thức bảo hiểm trách nhiệm công cộng xuất hiện trong những năm 1880 và cùng với phát minh ra xe ô tô, hình thức bảo hiểm này đã được công chúng đón nhận và ngày càng thể hiện được tầm quan trọng. Hướng dẫn khoa học: Tiến sĩ NGUYỄN TẤN HOÀNG Thực hiện: PHẠM THỊ NHƯ YẾN khoa luan, document10 of 138. tai lieu, luan van11 of 138. Trang 10 Trong suốt quá trình công nghiệp hóa, dịch vụ bảo hiểm đã có rất nhiều bước phát triển.

Năm 1897, chính phủ Anh thông qua “Đạo luật bồi thường cho người lao động” (Workmen’s Compensation Act). Đạo luật này buộc các Công ty phải đóng bảo hiểm tai nạn lao động cho nhân viên. Trong thế kỷ 19, người ta đã lập ra rất nhiều hội đoàn có trách nhiệm bảo hiểm nhân mạng và sức khỏe cho hội viên. Bên cạnh đó cũng có một số hội kín chỉ cung cấp dịch vụ bảo hiểm lệ phí thấp cho những ai là hội viên của họ.

Ngày nay các hội kín này vẫn cứ tiếp tục bảo hiểm cho hội viên; điều này diễn ra tương tự ở hầu hết các tổ chức của người lao động. Có nhiều chủ sử dụng lao động còn lo luôn một lúc nhiều hợp đồng BHNT và sức khỏe cho nhân viên. Các hợp đồng này không chỉ đơn thuần BHNT mà còn đảm bảo quyền lợi cho nhân viên khi họ bị bệnh, bị tai nạn hay về hưu. Trong các hợp đồng này thường nhân viên chỉ phải trả một phần phí bảo hiểm.

Mặc dù ngành công nghiệp bảo hiểm của Hoa Kỳ bị ảnh hưởng sâu sắc bởi Vương Quốc Anh, TTBH của nước này lại phát triển theo chiều hướng có phần khác với Anh. Khi Mỹ chuyển mình từ một thuộc địa xa bờ của Anh trở thành một thế lực độc lập và từ một nước nông nghiệp thành nước công nghiệp phát triển, ngành kinh doanh bảo hiểm của nước này cũng phát triển mạnh theo hướng từ một vài Công ty ban đầu trở thành một ngành công nghiệp quy mô lớn. Tóm lại có thể nói ngành bảo hiểm Mỹ đã phát triển rất tinh vi, sản sinh ra nhiều loại mạng lưới phục vụ và đa dạng hóa dịch vụ để phát triển hài hòa với một quốc gia đang ngày càng phức tạp. Ngày nay, bảo hiểm đã thâm nhập vào mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế xã hội.

Dù có đề phòng tai nạn tốt đến mức nào, con người cũng không thể loại trừ hết tất cả những rủi ro ra khỏi quá trình sản xuất kinh doanh và cuộc sống của nhân loại. Chỉ có bảo hiểm mới là phương tiện hữu hiệu giúp cho cuộc sống con người được ổn định, hoạt động sản xuất kinh doanh được tiến hành thường xuyên, liên tục Hướng dẫn khoa học: Tiến sĩ NGUYỄN TẤN HOÀNG Thực hiện: PHẠM THỊ NHƯ YẾN khoa luan, document11 of 138. tai lieu, luan van12 of 138. Trang 11 khi chẳng may gặp những sự cố rủi ro, tai nạn bất ngờ,…Bảo hiểm ngày nay thực sự trở thành một phạm trù kinh tế hiện đại và ngành kinh doanh bảo hiểm ngày càng giữ một vị trí quan trọng trong nền kinh tế của nhiều quốc gia.2 Đặc điểm của bảo hiểm 1.1 Khái niệm về bảo hiểm Theo các chuyên gia bảo hiểm, có rất nhiều định nghĩa bảo hiểm khác nhau tuỳ theo giác độ phân tích và quan điểm của mỗi người, song “Một định nghĩa thích hợp của bảo hiểm phải bao gồm sự xây dựng một quỹ, sự hoán chuyển rủi ro, và thêm nữa là phải bao gồm sự kết hợp số nhiều các đối tượng để biến tổn thất cá thể thành tổn thất cộng đồng, dự toán được.

Tổn thất dự toán này được phân bổ theo tỷ lệ cho các đơn vị được kết hợp (cộng đồng). Định nghĩa này bao gồm cả hai yếu tố: giảm thiểu rủi ro và phân tán tổn thất”.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ