CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TẠO VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNGVÙNG VEN BIỂN 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Lao động, việc làm, tạo việc làm 1.Lao động Theo TS.Tạ Đức Khánh (2009), Giáo Trình Kinh Tế Lao Động, Nhà Xuất bản Giáo dục 2009, lao động là hoạt động quan trọng nhất của con người, là quá trình người lao động sử dụng sức lao động của mình vào sản xuất để tạo ra các giá trị vật chất và tinh thần cho xã hội. [11] * Sức lao động Sức lao động là năng lực lao động, là toàn bộ trí lực và sức lực củacon người.
Sức lao động là yếu tố tích cực nhất, hoạt động nhiều nhất trong quá trình lao động, nó phát động và đưa các tư liệu lao động vào hoặt động lao động để tạo ra sản phẩm. Nếu coi sản xuất là một hệ thống gồm ba phần tạo thành (các nguồn lực, quá trình sản xuất, sản phẩm hàng hóa) thì sức lao động là một trong các nguồn lực khởi đầu của một quá trình sản xuất để tạo ra sản phẩm hàng hóa. “Sức lao động là năng lực lao động, là toàn bộ thể lực và trí lực của con người được sử dụng trong quá trình lao động” [11] * Nguồn lao động. Nguồn lao động là bộ phận dân số trong độ tuổi lao động theo quy định của pháp luật có khả năng lao động và những người ngoài độ tuổi lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế quốc dân.
Quy định cụ thể về độ tuổi lao động là khác nhau giữa các quốc gia, thậm chí khác nhau qua các thời kỳ của cùng một quốc gia, tùy thuộc vào trình độ phát triển kinh tế. Ở nước ta, theo quy định của Bộ luật lao động (2012), độ tuổi lao động là từ 15 đến 60 tuổi đối với nam và từ 15 đến 55 tuổi đối với nữ. Trường hợp người 8 lao động làm công tác quản lý và một số trường hợp đặc biệt khác có thể nghỉ hưu ở tuổi cao hơn nhưng không quá 05 năm. Nguồn lao động luôn được xem xét trên hai mặt là số lượng và chất lượng.
Xét về mặtsố lượng, nguồn lao động gồm: - Bộ phận dân số đủ 15 tuổi trở lên có việc làm. - Dân số trong độ tuổi lao động có khả năng lao động nhưng đang thất nghiệp, đi học, làm việc nội trợ trong gia đình, không có nhu cầu làm việc và những người thuộc tình trạng khác (gồm cả những người nghỉ hưu trước tuổi quy định). Chất lượng của nguồn lao động về cơ bản được đánh giá thông qua trình độ chuyên môn, tay nghề (trí lực) và sức khỏe (thể lực) của người lao động. * Lực lượng lao động.
Lực lượng lao động (LLLĐ) hay dân số hoạt động kinh tế theo quan niệm của tổ chức Lao động quốc tế (ILO) là một bộ phận của nguồn lao động bao gồm những người đủ 15tuổi trở lên đang có việc làm trong các lĩnh vực đời sống KTXH, ngoài ra còn cả bộ phận dân số không trực tiếp tạo ra thu nhập nhưng lại trực tiếp giúp cho người thân, gia đình tạo thu nhập và những người đang trong độ tuổi lao động không có việc làm nhưng có nhu cầu tìm việc làm và luôn sẵn sàng làm việc. Trên thực tế, đặc biệt là trong lĩnh vực nông nghiệp, vẫn có một số lao động không nằm trong độ tuổi lao động nhưng vẫn tham gia lao động như thiếu niên từ 13 đến 15 tuổi hay nữ trên 55 tuổi và nam trên 60 tuổi. Trong nghiên cứu này, thống kê LLLĐ hay dân số hoạt động kinh tế gồm những người thoả mãn các điều kiện đủ 15 tuổi trở lên đang làm việc (có việc làm) hoặc thất nghiệp trong thời gian nghiên cứu, với thời kỳ nghiên cứu là một tháng. Dân số không hoạt động kinh tế theo ILO bao gồm toàn bộ số người từ đủ 15 tuổi trở lên không thuộc bộ phận có việc làm và thất nghiệp.
Những người này không hoạt động kinh tế vì các lí do: đang đi học, hiện đang làm công việc nội trợ cho bản thân gia đình, tàn tật không có khả năng lao động, các lý do sức khỏe hoặc ở vào tình trạng khác. * Phân loại lao động Từ thực tế sử dụng lao động và để tính toán được các chỉ tiêu cơ cấu lao động 9 theo tính chất lao động, theo ngành sản xuất, theo trình độ đào tạo… phải căn cứ vào thời gian lao động đã sử dụng để quy ra số người lao động và năng suất lao động. Có nhiều cách để phân loại lao động, một trong số đó là phân loại theo phương thức sản xuất: - Lao động trực tiếp sản xuất:Trồng trọt, chăn nuôi, dịch vụ sản xuất - Lao động gián tiếp sản xuất: Cán bộ chỉ đạo kỹ thuật, cán bộ quản lý hành chính Phân loại lao động như trên cho ta thấy mối quan hệ giữa lao động trực tiếp sản xuất và gián tiếp sản xuất, mối quan hệ giữa các ngành sản xuất trong từng địa phương, từng doanh nghiệp. Ngoài cách phân loại trên, tùy yêu cầu nghiên cứu có thể phân chia lao động theo giới tính, độ tuổi để thấy được khả năng và huy động sức lao động của mỗi thành viên trong gia đình vào sản xuất nông nghiệp.
Việc làm Việc làm là vấn đề được nghiên cứu và đề cập dưới nhiều khía cạnh khác nhau. Cùng với sự phát triển của xã hội, quan niệm về việc làm cũng được nhìn nhận một cách khoa học, đầy đủ và đúng đắn hơn. Tổ chức lao động quốc tế (ILO) đưa ra quan niệm: “Người có việc làm là những người làm một việc gì đó, có được trả tiền công, lợi nhuận hoặc những người tham gia vào các hoạt động mang tính chất tự tạo việc làm vì lợi ích hay vì thu nhập gia đình, không nhận được tiền công hay hiện vật”. Ở Việt Nam, quan niệm về việc làm được quy định trong Bộ luật lao động sửa đổi bổ sung năm 2012.
Tại Điều 9, Chương II chỉ rõ: “Việc làm là hoạt động lao động tạo ra thu nhập mà không bị pháp luật cấm ”. [2] Như vậy, việc làm được hiểu đầy đủ như sau: “Việc làm là hoạt động lao động của con người nhằm mục đích tạo ra thu nhập đối với cá nhân, gia đình hoặc cho toàn xã hội, các hoạt động này không bị pháp luật cấm”. Nội dung của việc làm rất mở rộng và cho thấy khả năng to lớn để giải phóng tiềm năng lao động, giải quyết việc làm cho nhiều người. Người lao động được tự do hành nghề, tự do liên doanh, liên kết sản xuất kinh doanh; tự do thuê mướn lao động theo quy định của pháp luật nếu có nhu cầu.
Đồng thời qua đây cho thấy, việc làm là một phạm trù lịch sử, phụ thuộc vào điều kiện kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia trong các giai đoạn phát triển khác nhau. Việc mở 10 rộng hay thu hẹp việc làm, phát huy hay kìm hãm năng lực tạo việc làm phụ thuộc vào yếu tố kinh tế - chính trị - xã hội của quốc gia, địa phương hay doanh nghiệp. Tạo việc làm Theo PGS.TS Trần Xuân Cầu (2013), giáo trình kinh tế nguồn nhân lực, Nhà Xuất bản Đại học Kinh tế quốc dân: “Tạo việc làm là quá trình tạo điều kiện kinh tế xã hội cần thiết để NLĐ có thể kết hợp giữa sức lao động và tư liệu sản xuất, nhằm tiến hành quá trình lao động, tạo ra hàng hóa và dịch vụ theo yêu cầu thị trường”. [3] “Tạo việc làm là một quá trình tạo ra môi trường hình thành các chỗ làm việc và sắp xếp người lao động phù hợp với chỗ làm việc để có các việc làm chất lượng, đảm bảo nhu cầu của cả người lao động và người sử dụng lao động đồng thời phải đáp ứng được mục tiêu phát triển đất nước”.
“Tạo việc làm cho người lao động là đưa người lao động vào làm việc để tạo ra trạng thái phù hợp giữa sức lao động và tư liệu sản xuất, tạo ra hàng hóa và dịch vụ theo yêu cầu của thị trường”. Có thể hiểu tạo việc làm là tổng hợp những hoạt động cần thiết để tạo ra những chỗ làm việc mới, giúp người lao động chưa có việc làm có được việc làm; tạo thêm việc làm cho những NLĐ đang thiếu việc làm và giúp NLĐ tự tạo việc làm. Cơ chế tạo việc làm là cơ chế ba bên gồm có: - Về phía NLĐ: NLĐ muốn tìm việc làm phù hợp có thu nhập cao thì phải có kế hoạch thực hiện và đầu tư phát triển sức lao động, phải tự mình hoặc dựa vào các nguồn tài trợ từ gia đình, từ các tổ chức xã hội.để tham gia đào tạo, phát triển, nắm vững một nghề nghiệp nhất định. - Về phía người sử dụng lao động: Người sử dụng lao động bao gồm các doanh nghiệp trong nước thuộc các thành phần kinh tế, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các tổ chức kinh tế xã hội cần có thông tin về thị trường đầu vào và đầu ra, cần có vốn để mua nhà xưởng, máy móc thiết bị, nguyên vật liệu, sức lao động để sản xuất ra sản phẩm hoặc dịch vụ.
Ngoài ra người sử dụng lao động cần có kinh nghiệp, sự quản lý khoa học và nghệ thuật, sự hiểu biết về các chính sách của nhà nước nhằm vận dụng linh hoạt, mở rộng sản xuất, nâng cao sự thỏa mãn của NLĐ, 11 khơi dậy động lực làm việc, không chỉ tạo ra chỗ làm việc mà còn duy trì và phát triển chỗ làm việc. - Về phía Nhà nước: Ban hành các luật, cơ chế chính sách liên quan trực tiếp đến NLĐ và người sử dụng lao động, tạo ra môi trường pháp lý kết hợp lao động với tư liệu sản xuất. Thất nghiệp, thiếu việc làm 1. Thất nghiệp Theo tổ chức lao động quốc tế (ILO): “Thất nghiệp là tình trạng tồn tại khi một số người trong độ tuổi lao động muốn làm việc nhưng không thể tìm được việc làm ở mức tiền công thịnh hành”.
Như vậy người thất nghiệp là những người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động trong tuần lễ điều tra không có việc làm nhưng có nhu cầu tìm việc làm và có đăng ký tìm việc theo quy định. Thất nghiệp là một khái niệm vừa mang tính kinh tế vừa mang tính xã hội, nó mang nghĩa ngược với có việc làm. Nói đến thất nghiệp là nói đến sự khó khăn cho việc hoạch định chính sách của các quốc gia. Tuy nhiên trên thực tế tỷ lệ thất nghiệp ở mức hợp lý là điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế.