Chương 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn về tạo việc làm cho lao động nông thôn. Đặc điểm địa bàn và phương pháp nghiên cứu. Kết quả nghiên cứu và thảo luận.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TẠO VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN 1. Cơ sở lý luận về giải quyết việc làm cho lao động ở nông thôn 1. Những vấn đề chung về nông thôn và lao động nông thôn 1. Nông thôn Nhiều quan điểm cho rằng nông thôn là địa bàn mà ở đó dân cư sống chủ yếu bằng nông nghiệp, tuy nhiên như vậy là chưa đầy đủ vì có nhiều vùng dân cư sống chủ yếu bằng tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ, thu nhập từ nông nghiệp trở thành thứ yếu, chiếm một tỷ trọng rất thấp trong tổng thu nhập của dân cư.
Theo tác giả Triệu Đức Hạnh (2012) đã đưa ra khái niệm về nông thôn như sau “Nông thôn là vùng khác với thành thị ở chỗ ở đó có một cộng đồng chủ yếu là nông dân sống và làm việc, có mật độ dân cư thấp, cơ cấu hạ tầng kém phát triển hơn, có trình độ tiếp cận thị trường và sản xuất hàng hoá thấp hơn”. Đây là khái niệm dùng nhiều chỉ tiêu để đánh giá giữa nông thôn và thành thị vì vậy nó mang tính toàn diện hơn và được nhiều người chấp nhận hơn. Lao động Trong giáo trình Kinh tế học chính trị Mác - Lênin viết “Lao động là hoạt động có mục đích, có ý thức của con người nhằm tạo ra các sản phẩm phục vụ các nhu cầu của đời sống con người”. Trong bộ luật lao động năm 1994 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam viết “ Lao động là hoạt động quan trọng nhất của con người, tạo ra của cải vật chất và các giá trị tinh thần của xã hội”.
Hai khái niệm sau cơ bản giống nhau và khái quát được một cách toàn diện các hoạt động lao động phong phú của con người. Hoạt động lao động của con người có vai trò hết sức quan trọng. Trong lao động sản xuất ra của cải vật chất, con người luôn tác động vào các vật chất của tự nhiên, biến đổi nó cho phù hợp với nhu cầu của con người. Trong 7 quá trình đó, con người ngày càng phát hiện được những đặc tính, những quy luật của thế giới tự nhiên, từ đó họ cũng không ngừng thay đổi phương thức tác động vào thế giới tự nhiên, cải tiến các thao tác và công cụ lao động sao cho hoạt động của họ ngày càng hiệu quả hơn.
Như vậy, con người và tự nhiên có mối quan hệ biện chứng hữu cơ với nhau trong quá trình con người phát triển hướng tới một xã hội văn minh và hiện đại. Trong lao động con người không chỉ nâng cao được trình độ hiểu biết về thế giới tự nhiên mà còn cả những kiến thức về xã hội và nhân cách đạo đức. Lao động là điều kiện kiên quyết cho sự tồn tại và phát triển xã hội. Nguồn lao động là toàn bộ những người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động (theo quy định của nhà nước nam có tuổi từ 16 - 60; nữ tuổi từ 16 -55).
Lực lượng lao động là bộ phận của nguồn lao động bao gồm những người trong độ tuổi lao động đang có việc làm trong nền kinh tế quốc dân và những người thất nghiệp nhưng có nhu cầu tìm việc làm. Lao động nông thôn a. Đặc điểm của lao động nông thôn Lao động nông thôn sống và làm việc rải rác trên địa bàn rộng. Đặc điểm này làm cho việc tổ chức hợp tác lao động và việc bồi dưỡng đào tạo, cung cấp thông tin cho lao động nông thôn là rất khó khăn.
Đặc biệt này thể hiện ở những đặc điểm sau: - Lao động nông thôn có trình độ văn hóa và chuyên môn thấp hơn so với thành thị. Tỷ lệ lao động nông thôn đã qua đào tạo chiếm một tỉ lệ thấp. Lao động nông thôn chủ yếu học nghề thông qua việc hướng dẫn của thế hệ trước hoặc tự truyền cho nhau nên lao động theo truyền thống và thói quen là chính. Điều đó làm cho lao động nông thôn có tính bảo thủ nhất định, tạo ra sự khó khăn cho việc thay đổi phương hướng sản xuất và thực hiện phân công lao động, hạn chế sự phát triển kinh tế nông thôn.
8 - Lao động nông thôn mang tính thời vụ rõ rệt, đặc biệt là các vùng nông thôn thuần nông. Do vậy, việc sử dụng lao động trong nông thôn kém hiệu quả, hiện tượng thiếu việc làm là phổ biến. Vì vậy, muốn giải quyết việc làm và tăng thu nhập cho lao động nông thôn thì phải bằng mọi biện pháp nhằm hạn chế đến mức tối đa tính thời vụ bằng cách phát triển đa dạng ngành nghề trong nông thôn, thâm canh tăng vụ, xây dựng cơ cấu cây trồng hợp lý. - Lao động nông thôn tăng về số lượng.
Dân số được coi là yếu tố cơ bản quyết định số lượng lao động quy mô và cơ cấu của dân số có ý nghĩa đến quy mô cơ cấu nguồn lao động. - Lao động nông thôn có khả năng tiếp cận và tham gia thị trường kém, thiếu khả năng nắm bắt và xử lý thông tin thị trường, khả năng hoạch toán hạn chế. Do đó, khả năng giao lưu và phát triển sản xuất hàng hóa hạn chế. Phân loại lao động nông thôn Việc phân loại lao động nhằm đánh giá chất lượng nguồn lao động và tình hình sử dụng và phân công lao động trong nông thôn.
Về đánh giá chất lượng nguồn lao động, nếu đầy đủ còn phải có tiêu chí đánh giá về thể lực và tâm lực, nhưng trong phạm vị đề tài này không có điều kiện đề cập đến, do đó chỉ đánh giá về trình độ văn hóa và trình độ chuyên môn. * Theo trình độ văn hóa của người lao động Về trình độ văn hóa của người lao động có thể phân chia theo các mức độ sau: - Chưa tốt nghiệp cấp I - Cấp II - Cấp I - Cấp III Việc phân chia và tính được chính xác tỉ lệ lao động có trình độ văn hóa khác nhau là một tiêu chí quan trọng đánh giá chất lượng nguồn lao động nông thôn. Trình độ Trung học phổ thông là trình độ cơ sở rất quan trọng tạo điều kiện cho người lao động có khả năng tự học hỏi, tiếp thu và áp dụng 9 những kỹ thuật mới vào sản xuất và kinh doanh. Sự hiểu biết về pháp luật, việc xây dựng đời sống văn minh, hiệu quả của các chính sách phát triển nông nghiệp… phụ thuộc rất lớn vào trình độ văn hóa của người lao động.
Vì vậy, việc đánh giá đúng trình độ văn hóa của lao động nông thôn là cơ sở quan trọng để đưa ra những biện pháp đào tạo và chuyển giao khoa học kỹ thuật đến người lao động. * Theo trình độ chuyên môn Trình độ chuyên môn có thể được phân theo các mức độ sau: - Trình độ sơ cấp và công nhân kỹ thuật - Trình độ trung cấp - Trình độ cao đẳng và Trình độ đại học - Trình độ trên đại học * Theo lứa tuổi Phân chia lực lượng lao động theo nhóm tuổi có thể phân thành các nhóm như sau: - Từ 15 đến 24 - Từ 45 đến 54 - Từ 25 đến 34 - Từ 55 đến 60 - Từ 35 đến 44 Hoặc cũng có thể phân chia làm 3 nhóm là (i) Nhóm lao động trẻ gồm những người từ 15 đến 34 tuổi; (ii) Nhóm lao động trung niên gồm những người từ 35 đến 54 tuổi; (iii) Nhóm lao động cao tuổi gồm những người từ 55 tuổi trở lên. Việc phân chia lực lượng lao động theo nhóm tuổi như trên cho phép nắm được cơ cấu về tuổi đời của lực lượng lao động, tình hình biến động của lực lượng lao động và tình hình việc làm của mỗi nhóm tuổi. Từ đó tìm ra giải pháp giải quyết việc làm phù hợp.
* Theo giới tính nam và nữ, việc nghiên cứu tình hình việc làm theo giới tính cho ta biết thực trạng của lao động nữ, từ đó có những giải pháp cụ thể cho lao động nữ. 10 * Theo ngành hoạt động (i) Thuần nông; (ii) Nông kiêm; (iii) Phi nông nghiệp. Việc nghiên cứu như vậy sẽ nằm được thực trạng việc làm và thu nhập của các ngành khác nhau, so sánh cụ thể thời gian lao động và thu nhập được tạo ra từ mỗi ngành, từ đó đưa ra những giải pháp phát triển phù hợp. Việc phân chia như trên là dựa vào thu nhập và thời gian lao động được phân bổ cho các ngành.
Trong thực tế, mỗi hộ nông dân thường có cả trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp và thủy sản, ít nhất cũng có chăn nuôi và trồng trọt. Vì vậy, trong gia đình một người có thể vừa làm trồng trọt, vừa làm chăn nuôi, vừa làm các việc khác. Việc phân chia lao động theo ngành như trên cho phép đánh giá được cơ cấu kinh tế trong nông thôn và trình độ phân công lao động trong nông thôn. Điều này có ý nghĩa quan trọng để đánh giá trình độ phát triển của mỗi vùng nông thôn trong việc khai thác tối đa và hợp lý những thế mạnh của địa phương mình.
Vai trò của lao động nông thôn với tăng trưởng và phát triển kinh tế Lao động là một trong ba nhân tố của bất cứ một quá trình sản xuất nào và trong thời đại ngày nay khi mà các nguồn lực trở nên khan hiếm thì nó được xem xét là yếu tố quan trọng nhất của quá trình sản xuất, vai trò của nguồn lao động nói chung và nguồn lao động nông thôn nói riêng là rất quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế đất nước. Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay khi nước ta đang thực hiện CNH - HĐH đất nước trong đó CNH - HĐH nông nghiệp, nông thôn được đặc biệt quan tâm. Vì vậy lao động nông thôn có vai trò hết sức quan trọng nó được thể hiện qua các mặt sau: - Nguồn lao động nông thôn tham gia vào quá trình phát triển các ngành trong nên kinh tế quốc dân. Trong giai đoạn đầu của quá trình công nghiệp hóa, nguồn lực trong nông nghiệp có số lượng lớn và chiếm tỉ trọng cao trong tổng số lao động xã hội.
Song, cùng với sự phát triển của quá trình 11 công nghiệp hóa, nguồn nhân lực trong nông nghiệp vận động theo xu hướng giảm xuống cả tương đối và tuyết đối. - Nguồn lao động nông thôn tham gia vào sản xuất lương thực, thực phẩm. Nước ta là một nước có truyền thống nông nghiệp lâu đời dân số sống chủ yểu bằng nghề nông.