Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN. Nguồn lao động. Một số khái niệm. Lao động, lực lượng lao động và nguồn lao động, theo C.
Mác, là hoạt động cơ bản của con người. Trong các lĩnh vực của đời sống kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội,. Tùy theo lĩnh vực, tính chất hoạt động mà lao động được phân chia thành lao động sản xuất kinh doanh, lao động khoa học, lao động văn hoá, nghệ thuật. Những người tham gia hoạt động trong các lĩnh vực của đời sống xã hội được gọi là người lao động.
Nhưng người lao động, theo sự phân loại có tính chất truyền thống được chia thành: Những người trong độ tuổi lao động là những người ở độ tuổi lao động (tuỳ theo từng quốc gia) có nghĩa vụ và quyền lợi lao động theo quy định đã được Hiến Pháp ghi nhận. Người ngoài độ tuổi lao động gồm những người chưa đến tuổi lao động, những người đã hết tuổi nghĩa vụ lao động (theo quy định của Hiến Pháp)nhưng vẫn tham gia lao động. Lực lượng lao động là số người trong độ tuổi lao động đang làm việc hoặc chưa có việc làm nhưng đang có nhu cầu và đang tìm kiếm việc làm. Lực lượng lao động, nhất là nguồn lao động và chất lượng nguồn lao động có vai trò như nhân tố hàng đầu của những nhân tố quan trọng nhất trong phát triển kinh tế xã hội.
Nguồn lao động là phạm trù phản ánh lực lượng quan trọng nhất của nền sản xuất xã hội. Theo từ điển thống kê: Nguồn lao động xã hội là toàn thể những thành viên trong xã hội có khả năng tham gia lao động. Bao gồm: những người theo quy định của Nhà nước ở ngoài độ tuổi quy định nhưng thực tế đang tham gia lao động. Như vậy, nguồn lao động của xã hội hay của mỗi địa phương, ngành, đơn vị sản xuất.
là tổng thể những người lao động ở địa phương, ngành, đơn vị sản xuất. và được xem xét trong những khoảng thời gian nhất định. Sức lao m 5 động là khả năng lao động, được biểu hiện trên hai phương diện: Số lượng và chất lượng của nguồn lao động. Số lượng nguồn lao động: Về nguyên tắc, đó là tổng số người lao động xét về mặt thể lực của họ với tư cách là một yếu tố của quá trình lao động sản xuất.
Tuy nhiên, con người ngoài tư cách là yếu tố của quá trình lao động sản xuất còn là thành viên của xã hội, tham gia các hoạt động xã hội, đảm bảo tái sản xuất tự nhiên sức lao động. Vì vậy, thể lực của con ngườiđược xem xét như là yếu tố của sản xuất, kinh doanh theo những chừng mực nhất định, tuỳ thuộc vào thực trạng thể lực con người theo đặc tính chung về giới tinh, tuổi tác. những biểu hiện cụ thể của từng nguời như sự phát triển bình thường hay bị tàn tật.và thực trạng kinh tế xã hội của từng nước. Chính vì vậy, số lượng lao động và số lượng nguồn lao động được đo bằng số lượng người lao động theo những quy định nhất định, được gọi là lao động quy đổi.
Sở dĩ số lượng lao động được đo bằng lao động quy đổi vì nó bao gồm nhiều loại lao động khác nhau. Bộ phận cấu thành quan trọng nhất của nguồn lao động là người lao động trong độ tuổi quy định gọi tắt là lao động trong độ tuổi quy định. Lao động trong độ tuổi quy định là những người ở trong độ tuổi nhất định theo quy định của Nhà nước, có nghĩa vụ và quyền lợi đem sức lao động của mình làm việc cho m ình và cho xã hội, chịu sự điều động phân bổ của nhà nước để làm các công việc chung của xã hội. Theo quy định chung, độ tuổi lao động tính từ 16 đến 60 đối với nam và 16 đến 55 đối với nữ.
Tuy là trong độ tuổi lao động, nhưng vì nguồn lao động là toàn là những thành viên trong xã hội có khả năng tham gia lao động. Vì vậy, những người tàn tật không còn khả ngăng lao động, măc dù trong độ tuổi quy định nhưng không được tính vào số lượng nguồn lao động. Ngoài những người trong độ tuổi quy định, số lượng nguồn lao động còn bao gồm những người ngoài độ tuổi lao động(chưa đến hoặc đã quá tuổi lao động quy định của Nhà nước)nhưng thực tế vẫn tham gia lao động. m 6 Theo quy định hiện hành, ngoài độ tuổi lao động bao gồm: + Dưới độ tuổi quy định: Nam, nữ từ 13 tuổi đến 15 tuổi.
+ Trên độ tuổi quy định: Nam từ 61 tuổi trở lên, nữ từ 56 tuổi trở lên. Lao động ngoài độ tuổi quy định tham gia lao động do tự nguyện, Nhà nước không tính vào kế hoạch phân bổ sức lao động, không huy động vào những công việc có tính chất nghĩa vụ đối với Nhà nước. Chất lượng nguồn lao động là phạm trù biểu hiện ở từng người lao động và trên phạm vi từng vùng, từng đơn vị sản xuất kinh doanh trên các mặt như: Trình độ văn hoá, trình độ chuyên môn nghề nghiệp, trình độ tổ chức cuộc sống, các yếu tố về tâm lý tập quán, trình độ sức khoẻ, phẩm chất đạo đức, trình độ và ý thức pháp luật. Như vậy, chất lượng nguồn lao động chủ yếu biểu hiện trí lực của người lao động và chất lượng về thể lực của người lao động.
Trí lực của người lao động được thể hiện thông qua một loạt các tiêu thức phản ánh các mặt nhận thức của con người cụ thể: Trình độ văn hoá của người lao động là những chi thức của nhân loại mà người lao động tiếp thu đ ược theo những cấp độ khác nhau. Về thực chất, trình độ văn hoá của người lao động đạt được thông qua nhiều hình thức: Học tập tại trường lớp, tự học, học qua thực tế. nhưng phần lớn được tiếp thu qua trường lớp. Vì vậy, xã hội đánh giá trình độ văn hoá thông qua bằng cấp của người lao động đạt được ở các trường phổ thông, các trường cao đẳng, đại học.
Các trường hợp trên đã phản ánh chính xác trình độ văn hoá của người lao động. Một số người trong thực tế có năng lực, song họ không có điều kiện học tập qua trường lớp để thi cử và lấy bằng. Cũng có một số người tuy đã có bằng cấp nhưng trên thực tế khả năng rất hạn chế. Đối với người lao động, trình độ văn hoá là cơ sở quan trọng để họ tiếp thu các kiến thức về chuyên môn nghiệp vụ, giác ngộ giai cấp và nâng cao ý m 7 thức tổ chức kỷ luật trong lao động.
Vì vậy, đây là tiêu thức quan trọng để đánh giá chất lượng nguồn lao động. Trình độ chuyên môn, nghề nghiệp là những kiến thức về chuyên môn, nghề nghiệp của người lao động theo những cấp độ khác nhau. Đánh giá trình độ chuyên môn nghề nghiệp cũng thông qua bằng cấp chuyên môn của người lao động đã đạt được thông qua học tập và thi cử như tiến sĩ, phó tiến sĩ, thạc sĩ, đại học, trung cấp, sơ cấp, công nhân kỹ thuật. Trình độ chuyên môn thể hiện khả năng ứng dụng lý thuyết với thực hành đ ể tạo ra sản phẩm.
Trình độ càng cao tư duy sáng tạo càng lớn. Trình độ chuyên còn thể hiện ở trình độ tay nghề người lao động. Tâm lý, tập quán là phạm trù biểu hiện những suy nghĩ, những thói quen trong hoạt động sản xuất và sinh hoạt của dân cư ở từng vùng, từng dân tộc và từng ngành sản xuất. Về thực chất, tâm lý, tập quán là những nhân tố tác động đến chất lượng nguồn lao động, nhưng trong đó có nhiều yếu tố cấu thành chất lượng nguồn lao động.Tâm lý, tập quán phản ánh chất lượng nguồn lao động, như tâm lý coi thường phụ nữ dẫn đến hạn chế cho phụ nữ học tập văn hoá, chuyên môn nghề nghiệp sẽ làm cho chất lượng lao động nữ thấp hơn nam giới.
Trình độ tổ chức cuộc sống là tiêu thức phản ánh trình độ văn hoá, trình độ chuyên môn nghề nghiệp, tâm lý tập quán của các tầng lớp dân cư, đây cũng là yếu tố cấu thành chất lượng nguồn lao động. Đánh giá trình độ tổ chức cuộc sống, ngoài những tiêu thức về kinh tế như thu nhập, mức độ tái sản xuất mở rộng. , còn có những tiêu thức mang tính xã hội như sự học hành và trình độ của trẻ em. Trong điều kiện năng suất lao động và thu nhập thấp, trình độ tổ chức cuộc sống có ảnh hưởng rất lớn đến các hoạt động sản xuất và đời sống.
Trình độ và ý thức pháp luật là kiến thức và sự tuân thủ pháp luật của người lao động. Trình độ pháp luật của người lao động thu nhận được qua học tập ở trường phổ thông, trường đào tạo nghề, qua hoạt động sản xuất và đời sống. Trong nguồn lao động có bộ phận nhỏ được đào tạo chuyên ngành để m 8 hoạt động tư vấn pháp luật và trong các cơ quan pháp lý, còn số đông kiến thức pháp luật là những kiến thức cơ bản về các quy định của pháp luật, về các hoạt động dân sự, hoạt động kinh tế. ý thức pháp luật của người lao động thực hiện theo hai hướng: Không làm những điều pháp luật cấm và thực hiện những điều pháp luật yêu cầu.
Trình độ sức khoẻ, cơ cấu độ tuổi: Đây là các chỉ tiêu phản ánh chất lượng nguồn lao động về mặt chất của thể lực lao động. Tri thức được thể hiện ở trình độ sức khoẻ, cơ cấu độ tuổi của người lao động, đó là hai mặt chất lượng nguồn lao động. Do đó, đánh giá một đất nước giàu mạnh, kinh tế phát triển cao, người ta thường so sánh về chất lượng lao động chứ không thể so sánh về số lượng lao động. Nói cách khác, chất lượng nguồn lao động hay những con người lao động có trình độ là ”Tài sản quý giá nhất” của mỗi quốc gia.
Vai trò của nguồn lao động: Quá trình sản xuất vật chất hiểu theo nghĩa chung nhất là tổ chức kết hợp các yếu tố sức lao động, đất đai, thiết bị, nguyên nhiên vật liệu. để tạo ra sản phẩm, dịch vụ phục vụ mục đích của con người. Như vậy, sức lao động là một trong các yếu tố quan trọng nhất để tạo ra của cải vật chất. Uyliam Peti đã nói: Lao động là cha, đất là mẹ của mọi của cải vật chất.
Trong nghiên cứu và đánh giá điều kiện sản xuất, của địa phương và quốc gia, nguồn lao động được coi là nguồn lực cho sự phát triển.