Chương 1 CHAT LƯỢNG NGUON NHÂN LỰC VÀ NHỮNG YÊU CAU DAT RA CHO VIỆC NÂNG CAO CHÁT LƯỢNG NGUÒN NHÂN LỰC TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA Ở NƯỚC TA HIỆN NAY 1. Khái niệm chất lượng nguồn nhân lực và những yếu tố cấu thành chất lượng nguồn nhân lực 1. Khái niệm chất lượng nguồn nhân lực Việc xem xét nhân t6 con người với tư cách là một nguồn lực cơ bản trong sự phát triển kinh tế - xã hội đã dần hình thành khái niệm mới: “nguồn nhân lực” hay “nguồn lực con người”. Nguồn nhân lực được các nhà nghiên cứu đề cập trên các góc độ sau: Tác giả Stivastava M/P (An D6) trong cuốn “Human resource planing: Aproach needs asessment and priorities in manpower planing”; Nxb Manak New Delhi 1997, da dua ra dinh nghia về nguồn nhân lực dưới góc độ kinh tế như sau: “Nguồn nhân lực được hiểu là toàn bộ vốn nhân lực bao gồm thể lực, trí tuệ, kỹ năng nghề nghiệp mà mỗi cá nhân sở hữu.
Vốn nhân lực được hiểu là con người dưới dang một nguồn vốn, thậm trí là nguồn vốn quan trọng nhất đối với quá trình sản xuất, có khả năng sản sinh ra các nguồn thu nhập trong tương lai hoặc như là nguồn của cải có thé làm tăng sự phon thịnh về kinh tế. Nguồn vốn này là tập hợp những kỹ năng, kiến thức, kinh nghiệm tích luỹ được nhờ vào quá trình lao động sản xuất. Do vậy các chi phí về giáo dục, đào tạo, chăm sóc sức khoẻ và dinh dưỡng. để nâng cao khả năng sản xuất của nguồn nhân lực được xem như chi phí đầu vào của sản xuất, thông qua đầu tư vào con người” [33].
Trên cơ sở định nghĩa nguồn nhân lực như vậy, tác giả đã chỉ ra những lợi ích lớn của việc đâu tư vào nguôn nhân lực đó là: Đầu tư vào nguồn nhân lực là loại đầu tư có tỷ lệ thu hồi vốn cao, bởi vốn nhân lực càng được sử dụng nhiều thì giá trị gia tăng cảng tăng lên và cảng tạo ra được nhiều thu nhập. Vốn nhân lực không mang đặc điểm có tính quy luật như các nguồn vốn khác, đó là : so với khấu hao vốn đã đầu tư vào các tài sản và loại hình vật chất khác, thì đầu tư vốn nhân lực không gây áp lực về khối lượng vốn lớn cần huy động trong khoảng thời gian ngắn, do quá trình đầu tư dài và sau khi đã đầu tư thì vốn nhân lực tự duy trì và phát triển. Hiệu ứng lan toả của đầu tư vốn vào nhân lực là rất lớn, tạo ra những đột biến không lường trước được đối với phát triển kinh tế, do đặc điểm của vốn nhân lực là mang tính sáng tạo, nó tự phát huy tiềm năng mà các nguồn vốn khác không có. Từ đó có thé thấy việc chú trọng đầu tư dé chất lượng nguồn nhân lực không ngừng được gia tăng là một hướng phát triển hiệu quả và bền vững của một nền kinh tế.
Trong lý luận về “vốn người” nguồn nhân lực được xem xét trước hết như một yếu tố của quá trình sản xuất, một phương tiện dé phát triển kinh tế xã hội và đến lượt nó, phát triển kinh tế - xã hội lại là phương tiện nhằm đạt mục đích phát triển nguồn lực con người. Đầu tư cho con người được phân tích với tính cách là sự “tư bản hoá các phúc lợi” tương tự như đầu tư vào các nguồn vật chất, có tính đến tổng hiệu quả các đầu tư này, hoặc của thu nhập mà con người và xã hội thu được từ các đầu tư đó. Đây cũng là cách tiếp cận nguồn nhân lực đang được áp dụng ở hầu hết các quốc gia hiện nay. Theo cách tiếp cận này, Ngân hàng thế giới cho rằng: nguồn nhân lực là toàn bộ “vốn người” (thé lực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp.) mà mỗi cá nhân sở hữu, có thể huy động được trong quá trình sản xuất, kinh doanh, hay một hoạt động nao đó.
Ở đây nguồn nhân lực được coi như một nguồn vốn bên cạnh các loại vốn vật chất khác như: tiền, công nghệ, tài nguyên thiên nhiên,. Đầu tư cho con người giữ vị trí trung tâm trong các loại đầu tư và được coi là cơ sở chac chăn cho sự phát triên bên vững. Nguồn nhân lực được hiểu là toàn bộ trình độ chuyên môn mà con người tích luỹ được, có khả năng đem lại thu nhập trong tương lai. Theo Giáo sư Phạm Minh Hạc: nguồn nhân lực là tổng thể các tiềm năng lao động của một nước hay một địa phương sẵn sàng tham gia một công việc nào đó.
Khi nói đến nguồn nhân lực, người ta bàn đến trình độ, cơ cấu, sự đáp ứng với yêu cầu của thị trường lao động. Chất lượng nguồn nhân lực phan ánh trong trình độ kiến thức, kỹ năng, sức khoẻ và thái độ của người lao động đối VỚI công viéc. Nguyễn Hữu Dũng trong công trình “Sử dung hiệu quả nguôn lực con người Việt Nam” Nxb Lao động Xã hội, đã luận giải bản chat của nguồn nhân lực dưới những lát cắt khá rộng sau: Nguồn nhân lực là tiềm năng của con người có thể khai thác cho sự phát triển kinh tế - xã hội; Nguồn nhân lực là số lượng và chất lượng con người, bao gồm cả thể chất và tinh thần, sức khoẻ va trí tuệ, năng lực, phẩm chất và kinh nghiệm sông: Nguồn nhân lực là tổng thể những tiềm năng, những lực lượng thể hiện sức mạnh và sự tác động của con người trong việc cải tạo tự nhiên, cải tạo xã hội; là sự kết hợp giữa trí lực và thé lực của con người trong san xuất tao ra nang luc sang tao va chat lượng, hiệu qua của hoạt động lao động. Chu Tiến Quang (Việt Nam) trong cuốn “Huy động và sử dung các nguồn lực trong phát triển kinh tế nông thôn - thực trạng và giải pháp” Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 2005 đã đề cập về nguồn nhân lực như sau: Nguôn nhân lực bao gồm cả số lượng và chất lượng của dân số và lao động của một quốc gia, một vùng lãnh thổ, được chuẩn bị về năng lực làm việc và kỹ năng chuyên môn và ở một mức độ nhất định, đang và sẽ tham gia vào các hoạt động kinh tế khác nhau trong xã hội.
Như vậy có thé thay, khái niệm nguồn nhân lực được hiểu khá rộng với các mức độ khác nhau. Theo nghĩa rộng thì nguồn nhân lực là “số dân và chất lượng con người, gôm cả thê chat và tinh thân, sức khoẻ va trí tuệ, năng lực 10 và phẩm chất. Theo nghĩa hẹp thì nguồn nhân lực được hiểu là “lực lượng lao động, gồm số người đang làm việc, người thất nghiệp, và lao động dự phòng; hay bao gồm những người được đảo tạo và chưa được đào tạo, có thể đang làm việc hoặc đang không làm việc”. Theo cách hiểu hẹp nữa thì “nguồn nhân lực là lực lượng lao động đang làm việc và lực lượng lao động có khả năng nhưng đang không có việc làm (đang trong tình trạng thất nghiệp).
Nói một cách tổng quát nhất thì nguồn nhân lực chính là nguồn lao động. Bao gồm tất cả mọi người thuộc mọi tầng lớp xã hội và nghề nghiệp khác nhau, moi dia vi xã hội từ thấp đến cao - ké từ người làm nghề lao động đơn giản nhất, nông dân, công nhân, người làm công việc chuyên môn, người làm khoa học, người làm quản lí, nhà kinh doanh, người chủ doanh nghiệp, giới nghệ sỹ, người hoạch định chính sách, quản lí đất nước,. Tuy có những quan niệm và định nghĩa khác nhau về nguồn nhân lực tuỳ theo giác độ tiếp cận nghiên cứu, nhưng tựu chung lại ta có thé dé dang nhận thấy qua các khái niệm và định nghĩa trên, nguồn nhân lực được cấu thành bởi những yếu tổ sau: Số lượng nhân lực: Nói đến nguồn nhân lực của bat kỳ một tô chức, một địa phương hay một quốc gia nào thì câu hỏi luôn đặt ra là có bao nhiêu người và tương lai sẽ có thêm bao nhiêu nữa. Đó là câu hỏi cho việc xác định sé luong nguồn nhân lực.
Sự phát triển về số lượng nguồn nhân lực dựa theo hai nhóm yếu tố bên trong (chăng hạn nhu cầu thực tế công việc đòi hỏi phải tăng số lượng lao động) và những yếu tố bên ngoài của tô chức như sự gia tăng về dân số hay lực lượng lao động do di dân. Chat lượng nhân lực: Chất lượng nhân lực là yêu tô tong hợp của nhiều yếu tố bộ phận như trí tuệ, trình độ, sự hiểu biết, đạo đức, kỹ năng, sức khoẻ, thâm mf,. của người lao động. Trong những yếu tổ trên thì hai yếu tố trí lực và thé lực là quan trọng nhất trong việc xem xét, đánh giá chất lượng nguồn nhân lực.
Cơ cấu nhân lực: Cơ câu nguồn nhân lực là yếu tố không thé thiếu đựơc khi xem xét đánh giá vê nguôn nhân lực. Cơ câu nguôn nhân lực thê II hiện trên nhiều phương diện khác nhau như: cơ cau trình độ dao tạo, giới tính, độ tudi,. cơ cau nguồn nhân lực nói chung của một quốc gia được quyết định bởi cơ cấu đào tạo, cơ cau kinh tế, theo đó sẽ có một tỉ lệ nhất định nhân lực. Tóm lại, nguồn nhân lực là khái niệm tổng hợp bao gồm các yếu tố số lượng, chất lượng và cơ cấu phát triển người lao động nói chung cả ở hiện tại cũng như trong tương lai, tiềm năng của mỗi tổ chức, địa phương, quốc gia, khu vực và trên thế giới.
Từ những cách tiếp cận đó, khái niệm “Chất lượng nguồn nhân lực” được hiểu như sau: “Chất lượng” là khái niệm có tính tương đối, để đánh giá được chất lượng, người ta thường căn cứ vào mục đích, khi so sánh mức độ đáp ứng của đối tượng được đánh giá với yêu cầu mục đích sử dụng. Vì vậy trên thực tế thường xảy ra trường hợp cùng mức độ chất lượng của một đối tượng nhất định, song lại được đánh giá ở mức độ tốt ở chỗ này, nhưng chỉ được đánh giá ở mức độ trung bình hoặc yếu ở chỗ khác. Chất lượng nguồn nhân lực là tổng thể năng lực về trí lực, thể lực và khí chất (khí lực) của một tập hợp nhóm nhiều người trong mối tương quan với khả năng đáp ứng yêu câu phát triển bản thân con người và phát triển kinh tế - xã hội, những năng lực này được hình thành và phát triển thông qua giáo dục, đào tạo nghệ nghiệp, chăm sóc sức khoẻ và quá trình lao động.