Chương 1: Giới thiệu: Trình bày một cách tổng thể nội dung của toàn bộ nghiên cứu. Ở chương này trình bày lý do và vấn đề nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng, phạm vi và ý nghĩa của nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lý thuyết: Trình bày các lý thuyết nền tảng và mô hình lý thuyết về các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập, tìm hiểu mối quan hệ lý thuyết giữa các thành phần này. Đưa ra các biến có ảnh hưởng cùng chiều hay ngược chiều đến thu nhập sau khi ra trường của sinh viên tại TPHCM và mô hình nghiên cứu cho thấy sự tác động của các biến đến thu nhập.
Đồng thời trình bày tổng quan các nghiên cứu có liên quan đến đề tài trong và ngoài nước. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu: Ở chương này sẽ trình bày quy trình nghiên cứu, mô hình nghiên cứu và đưa ra các giả thuyết nghiên cứu từ nghiên cứu lý thuyết. Ngoài ra còn trình bày các nghiên cứu định tính, định lượng bằng các phương pháp khảo sát với quy mô mẫu định sẵn. Chương 4: Kết quả nghiên cứu: Đưa ra kết quả phân tích dữ liệu bao gồm các phân tích thống kê mô tả, phân tích hồi quy đa biến.
Chương 5: Kết luận và giải pháp: Chương này đưa ra các kết luận sau khi phân tích thực nghiệm từ Chương 3. Từ đó các khuyến nghị cũng được đưa ra đối với các bên liên quan. Cuối cùng là đề xuất những giải pháp để khắc phục những hạn chế của nghiên cứu. 5 0 0 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA ĐỀ TÀI 2.1 Tổng quan lý thuyết 2.1 Khái niệm thu nhập Theo Samuelson và Nordhalls (2001) thu nhập là luồng tiền lương, trả lãi, cổ tức và các nguồn thu khác mà một cá nhân hay một quốc gia nhận được trong một khoảng thời gian nhất định (thường là một năm).
Theo Tống Quốc Bảo (2015) cho là thu nhập của người lao động theo cách hiểu trong nghiên cứu này có nghĩa là tất cả các khoản tiền lương mà doanh nghiệp, người sử dụng lao động trả cho người lao động căn cứ theo số lượng và chất lượng công việc họ đã thực hiện, bên cạnh lương còn có các khoản tiền phụ cấp, các khoản tiền thưởng, … được tính chung vào thu nhập của người lao động. “Thu nhập kinh doanh là một thủ tục kế toán để đo lường lãi và lỗ, nhưng không thể ép vào việc đo lường rộng hơn các dòng vào và ra của tất cả các cá nhân, cụ thể là hàng hóa vô hình tự tạo ra, ít hơn nhiều so với lợi ích của mỗi loại.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập 2.1 Lương “Lương được hầu hết các doanh nghiệp lựa chọn là một trong những yếu tố quan trọng nhất trong kinh doanh và hệ thống trả lương hợp lý giúp doanh nghiệp tăng năng suất, thu hút nhân tài vào công ty, giảm tỷ lệ nhân sự. “Tiền lương là sự trả công hay gọi là thu nhập được biểu hiện bằng tiền và được thoả thuận giữa người sử dụng lao động và người lao động. Hoặc theo pháp luật quốc gia, do người sử dụng lao động phải trả cho người lao động theo một hợp đồng thuê mướn lao động.2 Giới tính Gianakos & Subich (1998), Daymont & Andrisani (1984) cũng chứng minh được giới tính có ảnh hưởng đến khoảng cách tiền lương và sự lựa chọn nghề nghiệp.
Liu (2004) cho thấy ứng với mỗi năm đi học tăng thêm, lao động nam nhận lương cao hơn 5% so với lao động nữ.3 Bằng cấp Theo Schneider (2013) nghiên cứu bằng cấp thể hiện trình độ và định hướng nghề nghiệp giúp sinh viên tìm kiếm việc làm với tiền lương cao. Sinh viên sử dụng bằng cấp như một công cụ hữu hiệu để tìm việc làm. 7 0 0 Melly (2006) kết luận bằng cấp thực sự có tác động đến tiền lương; và trình độ học vấn càng cao thì phần chênh lệch thu nhập giữa hai khu vực công và tư càng giảm. Nestic (2010) kết luận bằng cấp càng cao thì tiền lương nhận được càng nhiều và có sự chênh lệch trong đãi ngộ theo bằng cấp giữa nam và nữ.
Trình độ học vấn càng cao thì chênh lệch tiền lương theo giới tính càng giảm. Hung & cộng sự (2009) cho thấy bằng cấp thực sự tác động đến tiền lương và là yếu tố tham gia giải thích chênh lệch tiền lương giữa nhóm lao động người Kinh - Hoa và nhóm dân tộc thiểu số.4 Trình độ học vấn Machado & Mata (2005) nghiên cứu cho thấy trình độ học vấn đóng vai trò quan trọng trong hàm hồi quy tiền lương và mức đãi ngộ mà lao động nữ được nhận thấp hơn so với mức đãi ngộ nam giới được nhận nếu có cùng bằng cấp và khoảng chênh lệch này càng tăng khi xét ở phân vị càng cao. Nguyễn (2005) học vấn là yếu tố quan trọng tác động đến tiền lương và cũng chính là yếu tố đóng vai trò quan trọng nhất để gây ra sự chênh lệch tiền lương giữa hai khu vực kinh tế công lập và tư nhân. Moock và cộng sự (1998) cho thấy có sự tác động của trình độ giáo dục đến thu nhập và sự tác động này là khác biệt theo khu vực và giới tính.
Đối với khu vực Nhà nước thì tác động của trình độ giáo dục đối với thu nhập là mạnh hơn so với khu vực tư nhân và đối với nữ giới thì sự tác động này là mạnh hơn. 8 0 0 Nguyễn Nguyệt Nga (2002) kết luận nếu trình độ giáo dục được nâng lên cấp cơ sở trung học sẽ làm cho thu nhập cá nhân được tăng thêm. Tuy nhiên, các hệ dạy nghề không có tác động đến sự gia tăng thu nhập của cá nhân. Mincer (1958, 1974) và Becker (1964) chỉ ra rằng giáo dục và đào tạo làm tăng năng suất của các cá nhân bằng cách tăng kỹ năng và kiến thức của họ.
Và kỹ năng, kiến thức đó lại dẫn đến kết quả là làm tăng lợi nhuận cho các cá nhân. Vì vậy, theo lý thuyết vốn nhân lực thì giáo dục và đào tạo là yếu tố quan trọng cho hoạt động kinh tế của một cá nhân. Mincer (1974) đề xuất hàm thu nhập và nó được sử dụng rộng rãi đến bây giờ, nó cũng được gọi là hàm Mincer hoặc mô hình hồi quy thu nhập Mincer. Nghiên cứu này phát triển mô hình nghiên cứu dựa trên mô hình Mincer, trong đó bổ sung thêm một số biến kiểm soát khác dựa trên dữ liệu thu được từ “Cuộc điều tra khảo sát mức sống hộ gia đình Việt Nam”.5 Ngành nghề Ngành nghề đào tạo cũng có ảnh hưởng đến tiền lương của lực lượng lao động do mỗi ngành nghề đào tạo đều có chương trình đào tạo, lượng kiến thức cung ứng, thời gian đào tạo khác nhau và những dịch vụ khác có ảnh hưởng đến khả năng thu nhận kiến thức của sinh viên, từ đó ảnh hưởng trình độ của các sinh viên khi tốt nghiệp nên cũng dẫn đến sự khác biệt về việc làm và tiền lương.6 Độ tuổi Borjas (2013) cho rằng tiền lương của một người phụ thuộc vào tuổi tác của người đó.
Tiền lương tương đối thấp với NLĐ trẻ, tăng lên khi họ trưởng thành và tích lũy được vốn con người, rồi có thể giảm nhẹ đối với NLĐ lớn tuổi, 9 0 0 đã trình bày mối quan hệ và số năm đi học của một người bằng “đường tiền lương theo học vấn” cho thấy tiền lương của các doanh nghiệp sẵn sàng trả tương ứng cho mỗi trình độ học vấn, thể hiện mối quan hệ giữa lương và số năm đi học. (Mincer (1974), Borjas (2013), Thông thường NLĐ làm việc trong cùng một ngành nghề thì thu nhập của NLĐ còn phụ thuộc vào chuyên môn (loại hình công việc) và kinh nghiệm công tác của NLĐ.2 Lý thuyết nền tảng 2.1 Lý thuyết về ảnh hưởng của giáo dục đối với thu nhập của Mincer (1974) Mincer (1974) xem xét tác động của giáo dục đối với các khía cạnh cụ thể của thu nhập có được từ hoạt động của lực lượng lao động (thị trường), trong đó giáo dục được xem như một khoản đầu tư vào kho kỹ năng con người hoặc hình thành "vốn" của con người. Giáo dục có thể ảnh hưởng đến tỷ lệ thu nhập hoặc thu nhập trên một đơn vị khoảng thời gian làm việc; nó có thể ảnh hưởng đến sự tham gia của lực lượng lao động, đặc biệt ở các giai đoạn khác nhau của vòng đời; và nó có thể ảnh hưởng đến lượng thời gian làm việc được phản ánh bởi tần suất và thời gian thất nghiệp và bán thời gian thuê người làm.2 Lý thuyết về công bằng tiền lương của Robert M. Solow (1956) Món quà của công ty cho người lao động (để đáp lại món quà của người lao động đã làm việc chăm chỉ cho công ty) bao gồm một phần tiền lương công bằng theo định mức của việc tặng quà này.
Sử dụng lý thuyết tham chiếu cá nhân - nhóm tham chiếu (reference-individual — reference-group theory), tính công bằng của mức lương này phụ thuộc vào cách những người khác trong nhóm tham chiếu của người lao động được đối xử tương tự. Mặc dù, đôi khi mọi người có các nhóm tham chiếu, hoặc tham chiếu các cá nhân không giống nhau (Hyman, 1942), trong vấn đề công bằng, có thể an toàn nếu giả sử rằng hầu hết mọi người so sánh mình với những người giống nhau. Trong trường hợp đó, một lập luận về 10 0 0 tính công bằng được nhận thức của tiền lương sẽ là tiền lương mà những người lao động tương tự khác nhận được. Những người lao động như vậy, tất nhiên, bao gồm những người lao động được tuyển dụng; nhưng, ngoài ra, nó bao gồm những người lao động trong tập hợp tham chiếu đang thất nghiệp.
Mức lương công bằng mà người lao động nhận được phụ thuộc vào nỗ lực mà người đó bỏ ra vượt quá quy tắc làm việc, bản thân các quy tắc làm việc, tiền lương của những người lao động khác, lợi ích của người lao động thất nghiệp, cũng như số lượng công nhân đó và tiền lương công nhân nhận được trong các kỳ trước.3 Lý thuyết về việc làm, lãi suất và tiền bạc của J. Keynes (1936) Vấn đề định lượng kinh tế học là một điều hơi mỉa mai khi xem xét sự hiện diện của tiền tệ, thứ có thể đếm được một cách rõ ràng. Trên thực tế, thứ mà mọi người thường đếm nhiều nhất trong cuộc sống là tiền. Thông thường, có một số lượng hạn chế, một hàng hóa thực sự khan hiếm đối với cá nhân, cần được đáp ứng một cách cẩn thận hơn, nó sẽ sớm cạn kiệt.
Đây là quan điểm riêng của kinh tế học, ủng hộ sự tiết kiệm và thận trọng.