Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN 1. Những vấn đề chung về lao động và việc làm 1. Khái niệm và phân loại về lao động, việc làm 1. Khái niệm về Lao động Theo giáo trình thống kê lao động, lao động được định nghĩa là hoạt động có mục đích, ý thức của con người, trong quá trình lao động, con người vận dụng sức lực của bản thân, sử dụng công cụ lao động để tác động vào thế giới tự nhiên, biến đổi chúng và làm cho chúng trở nên có ích cho đời sống con người [6].
Chính vì vậy Ph.Ăngghen đã viết: “Lao động là điều kiện cơ bản đầu tiên của toàn bộ đời sống loài người, và như thế đến một mức mà trên một ý nghĩa nào đó chúng ta phải nói: lao động đã sáng tạo ra bản thân con người”. Như vậy, lao động là hoạt động quan trọng nhất của con người, là quá trình người lao động sử dụng sức lao động của mình vào sản xuất để tạo ra các giá trị vật chất và tinh thần cho xã hội. [6] Nguồn lao động là bộ phận dân số trong độ tuổi lao động theo quy định của pháp luật có khả năng lao động và những người ngoài độ tuổi lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế quốc dân. Chất lượng của nguồn lao động về cơ bản được đánh giá thông qua trình độ chuyên môn, tay nghề (trí lực) và sức khỏe (thể lực) của người lao động.
Lực lượng lao động (LLLĐ) hay dân số hoạt động kinh tế theo quan niệm của tổ chức Lao động quốc tế (ILO) là một bộ phận của nguồn lao động bao gồm những người đủ 15 tuổi trở lên đang có việc làm trong các lĩnh vực đời sống KTXH, ngoài ra còn cả bộ phận dân số không trực tiếp tạo ra thu nhập nhưng lại trực tiếp giúp cho người thân, gia đình tạo thu nhập và những người đang trong độ tuổi lao động không có việc làm nhưng có nhu cầu tìm việc làm và luôn sẵn sàng làm việc. Trên thực tế, đặc biệt là trong lĩnh vực nông nghiệp, vẫn có một số lao động không nằm trong độ tuổi lao động nhưng vẫn tham gia lao động như thiếu niên từ 13 đến 15 tuổi hay nữ trên 55 tuổi và nam trên 60 tuổi. Khái niệm Lao động nông thôn Cho đến nay, gần như chưa có định nghĩa nào về nông thôn được chấp nhận rộng rãi. Nếu cho rằng nông thôn là địa bàn có mật độ dân số thấp hơn thành thị thì chưa thoả đáng vì chỉ tiêu này khác nhau giữa các nước và ngay ở nước ta thì một số vùng nông thôn so với nhiều thị xã thì mật độ dân số không thấp hơn.
Có nhiều ý kiến cho rằng nông thôn là địa bàn mà ở đó dân cư sống chủ yếu bằng nông nghiệp. Đây là ý kiến có tính thuyết phục hơn nhưng chưa đầy đủ vì có nhiều vùng dân cư sống chủ yếu bằng tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ, thu nhập từ nông nghiệp trở thành thứ yếu, chiếm một tỷ trọng rất thấp trong tổng thu nhập của dân cư. Một số nhà khoa học đưa ra khái niệm về nông thôn như sau: Nông thôn là vùng khác với thành thị ở chỗ ở đó có một cộng đồng chủ yếu là nông dân sống và làm việc, có mật độ dân cư thấp, cơ cấu hạ tầng kém phát triển hơn, có trình độ tiếp cận thị trường và sản xuất hàng hoá thấp hơn Lao động nông thôn là những người thuộc lực lượng lao động và tham gia hoạt động trong hệ thống các ngành kinh tế nông thôn như trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp, ngư nghiệp, diêm nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ trong nông thôn. Khái niệm về việc làm Khái niệm về việc làm đã được điều 9, chương 2, phần việc làm của Bộ Luật Lao động đã được Quốc hội Khóa XIII Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua năm 2012 nêu rõ như sau: “Việc làm là hoạt động lao động tạo ra thu nhập mà không bị pháp luật cấm”.
[11] Hoạt động lao động được xác định là việc làm bao gồm: Làm những công việc được trả công dưới dạng bằng tiền hoặc hiện vật, những công việc tự làm để thu lợi nhuận cho bản thân hoặc tạo thu nhập cho gia đình mình nhưng không được trả công (bằng tiền hoặc hiện vật) cho công việc đó. Vai trò của nhà nước đối với vấn đề việc làm cũng được điều 12 của Bộ luật lao động chỉ rõ: + Nhà nước xác định chỉ tiêu tạo việc làm tăng thêm trong kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm, hàng năm. Căn cứ vào điều kiện kinh tế - xã hội trong từng thời kỳ, Chính phủ trình Quốc hội quyết định chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm và dạy nghề. 6 + Có chính sách bảo hiểm thất nghiệp, các chính sách khuyến khích để người lao động tự tạo việc làm, hỗ trợ người sử dụng lao động sử dụng nhiều lao động nữ, lao động là người khuyết tật, lao động là người dân tộc ít người để giải quyết việc làm.
+ Khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh để tạo việc làm cho người lao động. + Hỗ trợ người sử dụng lao động, người lao động tìm kiếm và mở rộng thị trường lao động ở nước ngoài. + Thành lập Quỹ quốc gia về việc làm để hỗ trợ cho vay ưu đãi tạo việc làm và thực hiện các hoạt động khác theo quy định của pháp luật. Như vậy, ở Việt Nam hiện nay, việc làm không chỉ tạo ra trong khu vực nhà nước mà trong tất cả các thành phần kinh tế, tạo điều kiện thúc đẩy người lao động linh hoạt, chủ động trong tìm kiếm việc làm, không ỷ lại hoặc trông chờ vào nhà nước.
Người có việc làm hiện nay bao gồm tất cả những người làm việc trong tất cả các ngành kinh tế quốc dân, trong hệ thống các cơ quan Đảng, đoàn thể, các tổ chức có hưởng thù lao dưới các hình thức thể hiện qua mức thu nhập bằng tiền hoặc hiện vật, nhằm phục vụ cho nhu cầu bản thân và gia đình người lao động. * Phân loại việc làm Phân loại chính xác việc làm, giúp chúng ta nhìn nhận trung thực hơn về mức độ sử dụng lao động xã hội và cho phép xác định được quy mô việc làm cần phải tạo thêm cho người lao động. Căn cứ vào mức độ đầu tư thời gian cho việc làm người ta phân chia thành: Việc làm chính: là công việc mà người thực hiện dành nhiều thời gian nhất hoặc có thu nhập cao hơn công việc khác. Việc làm phụ: là công việc mà người thực hiện dành nhiều thời gian nhất so với công việc chính.
Căn cứ vào số thời gian có việc làm thường xuyên trong một năm mà chia thành: Người có việc làm ổn định: là những người trong 12 tháng làm việc từ 6 tháng trở lên hoặc những người làm việc dưới 6 tháng trong 12 tháng và sẽ tiếp tục làm công việc đó trong những năm tiếp theo. 7 Người có việc làm tạm thời: là những người có việc làm dưới 6 tháng trong 12 tháng trước thời điểm điều tra đang làm công việc tạm thời hoặc tạm thời không có việc làm dưới 1 tháng. Lực lượng lao động và việc làm của lao động ở nông thôn Lực lượng lao động gồm những người từ độ tuổi lao động trở lên có việc làm và những người thất nghiệp. Như vậy lực lượng lao động nông thôn là một bộ phận của lực lượng lao động cả nước nhưng sinh sống và làm việc ở khu vực nông thôn bao gồm cả những người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động, đang làm việc, những người thất nghiệp nhưng có nhu cầu làm việc đang tìm kiếm việc làm và những người trên độ tuổi lao động đang làm việc thường xuyên.
[11] Lao động nông thôn sống và làm việc rải rác trên địa bàn rộng. Đặc điểm này làm cho việc tổ chức hiệp tác lao động và việc bồi dưỡng đào tạo, cung cấp thông tin cho lao động nông thôn là rất khó khăn. Lao động nông thôn có trình độ văn hoá và chuyên môn thấp hơn so với thành thị. Tỷ lệ lao động nông thôn đã qua đào tạo chiếm một tỷ lệ thấp.
Lao động nông thôn chủ yếu học nghề thông qua việc hướng dẫn của thế hệ trước hoặc tự truyền cho nhau nên lao động theo truyền thống và thói quen là chính. Điều đó làm cho lao động nông thôn có tính bảo thủ nhất định, tạo ra sự khó khăn cho việc thay đổi phương hướng sản xuất và thực hiện phân công lao động, hạn chế sự phát triển kinh tế nông thôn. Lao động nông thôn mang tính thời vụ rõ rệt, đặc biệt là các vùng nông thôn thuần nông. Do vậy, việc sử dụng lao động trong nông thôn kém hiệu quả, hiện tượng thiếu việc làm là phổ biến.
Vì vậy, muốn giải quyết việc làm và tăng thu nhập cho lao động nông thôn thì phải bằng mọi biện pháp nhằm hạn chế đến mức tối đa tính thời vụ bằng cách phát triển đa dạng nghành nghề trong nông thôn, thâm canh tăng vụ, xây dựng cơ cấu cây trồng hợp lý. Lao động nông thôn có khả năng tiếp cận và tham gia thị trường kém, thiếu khả nămg nắm bắt và xử lý thông tin thị trường, khả năng hạch toán hạn chế. Do đó, khả năng giao lưu và phát triển sản xuất hàng hoá hạn chế. * Đặc điểm cơ bản của lực lượng lao động ở nông thôn - Lao động nông thôn mang tính thời vụ 8 Đây là đặc điểm đặc thù không thể bác bỏ được của lao động nông thôn.
Nguyên nhân của nét đặc thù trên là do: đối tượng của sản xuất nông nghiệp là cây trồng vật nuôi chúng là những cơ thể sống trong đó quá trình tái sản xuất tự nhiên và tái sản xuất kinh tế đan xen nhau. Tính thời vụ trong nông nghiệp vĩnh cửu không thể bác bỏ được trong quá trình sản xuất chúng ta chỉ có thể tìm cách làm giảm tính thời vụ của sản xuất nông nghiệp. Từ đó đặt ra vấn đề cho việc sử dụng các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất, đặc biệt là vấn đề sử dụng lao động nông thôn một cách hợp lý có ý nghĩa rất quan trọng - Nguồn lao động ở nông thôn tăng về số lượng Dân số được coi là yếu tố cơ bản quyết định số lượng lao động: quy mô và cơ cấu dân số có ý nghĩa quyết định đến qui mô cơ cấu của nguồn lao động.