CHƯƠNG 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở lí luận của đề tài 1. Nông dân, nông nghiệp và nông thôn - Nông dân: đầu tiên có thể hiểu nông dân là những người dân sống ở nông thôn, sau đó nông dân là những người trực tiếp tham gia sản xuất trong các ngành nông nghiệp, ngư nghiệp, lâm nghiệp, diêm nghiệp. Hay nói cách khác, nông dân là những người tham gia làm việc trong ngành kinh tế nông nghiệp, sống dựa vào nông nghiệp [7].
- Nông thôn: các quốc gia trên thế giới trong quá trình phát triển đều phân các vùng lãnh thổ của mình thành hai khu vực là nông thôn và thành thị. Các nhà xã hội học đã đưa ra một số tiêu chí phân biệt khu vực nông thôn và thành thị như: thành phần xã hội của dân số, các di sản văn hóa, sự phồn thịnh, sự phân hóa xã hội của dân cư, mức độ phức tạp của cấu trúc và đời sống xã hội, cường độ và sự đa dạng của mối liên hệ xã hội,…. Sự phân biệt nông thôn và thành thị có thể dựa vào các tiêu chí quy định cho từng vùng, từng quốc gia và nhiều nước đã thống nhất coi số lượng dân cư làm tiêu chí để phân biệt giữa nông thôn và thành thị [7]. Như vậy, khu vực nông thôn được xác định là những khu vực nằm ngoài các tiêu chí quy định trên.
Có thể coi nông thôn Việt Nam bao gồm các địa bàn dân cư có số lượng người dân tập trung dưới 4.000 người và tỷ lệ lao động phi nông nghiệp dưới 55%, tức là tỷ lệ lao động nông nghiệp đạt từ 45% trở lên [20]. Hiện nay, trên thế giới vẫn chưa có định nghĩa chuẩn xác về nông thôn, còn nhiều quan điểm khác nhau. Nhưng trong điều kiện hiện nay ở Việt Nam thì có thể hiểu “Nông thôn là vùng sinh sống của tập hợp cư dân, trong đó có nhiều nông dân. Tập hợp cư dân này tham gia vào các hoạt động kinh tế, văn hoá - xã hội và môi trường trong một thể chế chính trị nhất định và chịu ảnh hưởng của các tổ chức khác” [7].
e 5 - Nông nghiệp: theo nghĩa rộng bao gồm nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp và diêm nghiệp. Theo định nghĩa hẹp thì nông nghiệp chỉ bao gồm trồng trọt và chăn nuôi. Nông nghiệp là ngành sản xuất, cung cấp những sản phẩm thiết yếu phục vụ đời sống của con người như lương thực, thực phẩm. Ngày nay, khi đời sống của con người ngày càng tăng lên, giá trị sản xuất của ngành nông nghiệp ngày càng chiếm tỷ lệ rất nhỏ trong cơ cấu GDP của một quốc gia.
Nhưng nó vẫn là một ngành kinh tế quan trọng và không thể thiếu được trong cuộc sống hàng ngày. Trong điều kiện nước ta thì ngành nông nghiệp vẫn là một ngành kinh tế rất quan trọng, hàng năm nó đóng góp khoảng 20% GDP của đất nước, nó tạo ra việc làm cho khoảng 70% dân số và 60% lao động của cả quốc gia [7]. Như vậy, có thể hiểu nông nghiệp bao gồm các ngành sản xuất trồng trọt (gieo cấy, chăm sóc, thu hoạch các loại giống cây trồng như lúa, ngô, khoai, sắn, cây ăn quả, cây công nghiệp, rau các loại,…); chăn nuôi (gồm chăn nuôi gia súc, gia cầm, để lấy thịt, lấy sữa, lấy trứng,…) hay nói cách khác là tạo ra các sản phẩm có nguồn gốc động vật nuôi sống con người; ngư nghiệp là ngành sản xuất bao gồm: nuôi trồng, đánh bắt các loài thuỷ, hải sản, như cá, tôm, cua, ghẹ,… lâm nghiệp (trồng cây, gây rừng, khoanh nuôi rừng, thu hoạch rừng, tận thu những sản phẩm từ gỗ,…); diêm nghiệp là nghề của những cư dân ven biển tạo ra những sản phẩm muối phục vụ cho đời sống, sinh hoạt của con người. Khái niệm về lao động, việc làm Lao động là hoạt động quan trọng nhất của con người, vì nó tạo ra của cải, vật chất và tinh thần cho xã hội.
Lao động với năng suất lao động, chất lượng, hiệu quả cao là nhân tố quyết định sự phát triển của đất nước. Do vậy, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động là nghĩa vụ của Nhà nước phải thực hiện (Điều 57, Hiến pháp năm 2013). Người lao động là người từ đủ 15 tuổi trở lên, có khả năng lao động, làm việc theo hợp đồng lao động, được trả lương và chịu sự quản lý, điều hành của người sử dụng lao động. e 6 Người sử dụng lao động là doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức, hợp tác xã, hộ gia đình, cá nhân có thuê mướn, sử dụng lao động theo hợp đồng lao động; nếu là cá nhân thì phải có năng lực hành vi dân sự đầy đủ (Điều 3, Bộ Luật Lao động năm 2012) [10].
Lực lượng lao động là số người trong độ tuổi lao động đang có việc làm hoặc chưa có việc làm nhưng đang tích cực tìm kiếm việc làm. Đề cập đến lực lượng lao động phải xem xét đến cơ cấu lao động. Cơ cấu lao động là thể hiện từng loại lực lượng lao động giản đơn, phức tạp, trí óc, chân tay và biểu hiện mối quan hệ giữa chúng. Nhờ nghiên cứu lao động giúp cho mỗi quốc gia có chủ trương, phương hướng, biện pháp trong giải quyết việc làm và sử dụng lực lượng lao động có hiệu quả [10].
Việc làm là hoạt động lao động tạo ra thu nhập mà không bị pháp luật cấm. Theo Tổ chức lao động Quốc tế (ILO): Việc làm là những hoạt động lao động được trả công bằng tiền và bằng hiện vật hay việc làm gồm những người trên một độ tuổi xác định nào đó, trong một khoảng thời gian cụ thể, có thể là một tuần hoặc một ngày, làm việc được trả lương hay tự trả lương cho mình. Vì vậy họ là những người: Làm một số công việc được trả tiền công hoặc tiền lương bằng tiền mặt hoặc hiện vật; Có thỏa thuận lao động chính thức nhưng tạm thời không làm việc trong thời gian được đề cập; Làm một số công việc vì lợi nhuận hoặc vì lợi ích cho gia đình dưới dạng tiền mặt hoặc hiện vật; Đã làm việc cho một doanh nghiệp chẳng hạn như một cơ sở kinh doanh, trang trại hoặc dịch vụ nhưng tạm thời đang không làm việc trong thời gian được đề cập đến vì một lí do cụ thể nào đó, được hiểu là “được thuê làm việc”[29]. Trong cơ chế quản lý mới, quan niệm về việc làm đã có những thay đổi cơ bản.
Đã có nhiều khái niệm khác nhau về việc làm nhưng tựu chung lại: việc làm là mọi hoạt động nhằm tạo ra thu nhập đảm bảo cho bản thân gia đình và xã hội không bị pháp luật ngăn cấm. Theo quan niệm này thì việc làm bao gồm tất cả mọi hoạt động với những nội dung phong phú liên quan đến sự sống còn và phát triển của một xã hội nhất định. e 7 Từ những cơ sở và phân tích trên chúng ta có thể kết luận người có việc làm là những người trong độ tuổi lao động và đang có việc làm trong các cơ sở kinh tế, văn hoá, xã hội. Việc làm là một hoạt động có ích, không bị pháp luật nghiêm cấm, có thu nhập hoặc tạo điều kiện tăng thu nhập cho những người trong cùng hộ gia đình.
Người có việc làm bao gồm những người đủ 15 tuổi trở lên trong nhóm dân số hoạt động kinh tế mà trong một tuần lễ trước điều tra: - Đang làm việc để nhận tiền lương, tiền công hoặc lợi nhuận bằng tiền mặt hay hiện vật. - Đang làm nhữn công việc sản xuất kinh doanh của gia đình mình để thu lợi nhuận nhưng không được trả công cho công việc đó. - Đã có việc làm nhưng trước đó đang trong thời gian nghỉ đã có sự cho phép của nhà quản lý và sẽ trở lại sau thời gian nghỉ phép [4]. Căn cứ vào thời gian làm việc của người được coi là có việc làm thì có thể phân loại như sau: - Người đủ việc làm: là những người có đủ điều kiện sử dụng hết thời gian lao động theo quy định.
Trong thống kê lao động – việc làm ở Việt nam thì những người có đủ việc làm bao gồm những người có số giờ làm việc trong tuần lễ tính đến thời điểm điều tra lớn hơn hoặc bằng 40h hoặc những người có số giờ làm việc nhỏ hơn 40h nhưng lớn hơn hoặc bằng giờ quy định đối với người làm công việc nặng nhẹ, độc hại theo quy định hiện hành. - Người thiếu việc làm: Bao gồm những người mà tại thời điểm điều tra không sử dụng hết thời gian lao động quy định và nhận được thu nhập từ công việc khiến họ có nhu cầu làm thêm. - Người thất nghiệp: Là những người trong độ tuổi lao động, có sức lao động nhưng chưa có việc làm, đang có nhu cầu làm việc nhưng chưa có việc làm. Theo tổ chức Lao động quốc tế (ILO), thất nghiệp là tình trạng tồn tại của những người lao động muốn có việc làm nhưng không tìm được việc làm vì những lí do ngoài ý muốn của họ, đó đó không có thu nhập [4].
e 8 Giải quyết việc làm cho nông dân là tạo ra môi trường và các điều kiện cần thiết để nông dân làm việc, nâng cao thu nhập cho bản thân và cho người khác theo đúng pháp luật, phát huy đến mức cao nhất yếu tố con người trong lao động sản xuất. Như vậy giải quyết việc làm là nhằm khai thác triệt để tiềm năng của con người nhằm đạt được việc làm hợp lý và việc làm hiệu quả cho nông dân. Chính vì vậy, giải quyết việc làm phù hợp có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với nông dân ở chỗ tạo ra cơ hội thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình trong đó có quyền được làm việc để nuôi sống bản thân gia đình và góp phần xây dựng đất nước. - Xu hướng việc làm của Việt Nam trong thời gian tới: Theo dự báo của Tổ chức Lao động Thế giới (ILO), Việt Nam sẽ có khả năng tạo thêm được 6 triệu việc làm, tương đương với 1/10 số việc làm tăng thêm đến năm 2025 của toàn bộ khối ASEAN do tác động từ việc hình thành Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC).
Khi tham gia AEC, số việc làm của Việt Nam sẽ tăng 14,5% vào năm 2025. Trong giai đoạn 2016 - 2025, nhu cầu tuyển dụng nhân sự hình thành 03 cấp nhân lực: chuyên môn kỹ thuật bậc cao (tăng 41% - 14 triệu chỗ làm việc), chuyên môn kỹ thuật bậc trung (tăng 22% - 38 triệu chỗ làm việc), chuyên môn kỹ thuật bậc thấp (tăng 24% - 12,4 triệu chỗ làm việc) [29].