CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TẠO ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG 1.1 Một số khái niệm 1.1 Nhu cầu của người lao động Theo Từ điển tiếng Việt “Nhu cầu là điều đòi hỏi của đời sống, tự nhiên và xã hội”[3]. Theo cuốn Giáo trình Hành vi tổ chức (Bùi Anh Tuấn – Phạm Thúy Hương, 2011) “Nhu cầu được hiểu là sự không đầy đủ về vật chất hay tinh thần mà làm cho một số hệ quả (tức là hệ quả của việc thực hiện nhu cầu) trở nên hấp dẫn”[4]. Nhu cầu là một hiện tượng tâm lý của con người, là đòi hỏi, mong muốn, nguyện vọng của con người về vật chất và tinh thần để tồn tại và phát triển. Tùy theo trình độ nhận thức, môi trường sống, những đặc điểm tâm sinh lý, mỗi người có những nhu cầu khác nhau.
Nhu cầu là yếu tố thúc đẩy con người hoạt động. Nhu cầu càng cấp bách thì khả năng chi phối con người càng cao. Về mặt quản lý, kiểm soát được nhu cầu đồng nghĩa với việc có thể kiểm soát được cá nhân. Nhu cầu của một cá nhân là đa dạng và vô tận.
Về mặt quản lý, người quản lý chỉ kiểm soát những nhu cầu có liên quan đến hiệu quả làm việc của cá nhân. Việc thoả mãn nhu cầu nào đó của cá nhân đồng thời tạo ra một nhu cầu khác theo định hướng của nhà quản lý, do đó người quản lý luôn có thể điều khiển được các cá nhân.2 Động lực làm việc Động lực của người lao động là những nhân tố bên trong kích thích con người nỗ lực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu quả cao. Biểu hiện của động lực là sự sẵn sàng nỗ lực, say mê làm việc nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức cũng như bản thân người lao động [4]. Từ điển tiếng Anh Longman định nghĩa động lực làm việc là “sự háo hức và sẵn sàng để làm điều gì đó mà không cần phải được nhắc nhở hoặc buộc phải làm điều đó”[5].
7 Theo định nghĩa của Từ điển tiếng Việt, “động lực là nguồn lực làm cho máy móc chuyển động” và “nguồn động lực là cái thúc đẩy làm cho phát triển”[3]. Theo Business Edge động lực làm việc là “một động lực có ý thức hay vô thức khơi dậy và hướng hành động vào việc đạt được một mục tiêu mong đợi”[6]. Qua các định nghĩa trên, có thể thấy tạo động lực liên quan nhiều đến sự khích lệ và mong muốn. Nó không liên quan đến sự đe dọa, ép buộc hay cám dỗ.
Khi tạo động lực cho ai đó có nghĩa làm cho họ muốn làm điều đó. Một người khi được tạo động lực, họ sẽ bị thôi thúc và hành động theo một cách thức nào đó. Nếu tác nhân tạo động lực đủ mạnh, thì có thể sẽ không dễ chỉ đạo và giám sát các hành động này từ bên ngoài. Một thách thức khác trong việc tạo động lực là mục tiêu mong muốn của cá nhân phải phù hợp với mục tiêu của doanh nghiệp.
Sẽ rất khó để hiểu một cách cụ thể về động lực khi mà có quá nhiều những yếu tố thuộc về tâm sinh lý của con người tác động lên ý thức, thôi thúc con người phải hành động. Chủ nghĩa duy vật biện chứng đã khẳng định rằng “vật chất tác động lên ý thức”, nghĩa là ý thức được hình thành khi có vật chất tác động vào. Ví dụ: khi nhìn thấy hình ảnh miếng bánh ta có cảm giác thèm và muốn ăn miếng bánh đó – đây là cảm giác tự nhiên – do phản xạ của con người tạo nên. Chỉ có ăn đúng miếng bánh đó thì cơn thèm mới được thỏa mãn; như vậy bản thân ta đã phát sinh nhu cầu: được ăn bánh.
Chính nhu cầu này thúc đẩy bản thân ta phải đi tìm kiếm loại bánh đó, để đáp ứng ta phải dành thời gian và công sức để tìm kiếm hoặc làm ra bánh. Nói cách khác, chính những ảnh hưởng của môi trường bên ngoài tác động đến tâm sinh lý bên trong của bản thân ta làm ta phát sinh ra nhu cầu, nhu cầu này là động cơ thúc đẩy, thôi thúc ta, muốn ta phải suy nghĩ, tìm kiếm những phương thức có khả năng thỏa mãn nhu cầu đó. Vậy, “động cơ thúc đẩy” là toàn bộ các yếu tố thuộc về xu hướng bên trong con người như: nhu cầu, ước mơ, nguyện vọng…các yếu tố này thôi thúc con người tích cực hoạt động để được thoả mãn. Quá trình của động cơ thúc đẩy được mô tả như một chuỗi phản ứng ở hình 1 như sau: 8 Nhu cầu Nhu cầu Giảm không Sự căng Các động Hành vi được căng được thẳng cơ tìm kiểm thỏa mãn thẳng thỏa mãn Hình 1.1 – Quá trình tạo động lực (Nguồn: trang 87, Bùi Anh Tuấn – Phạm Thúy Hương, Hành vi tổ chức) 1.2 Các học thuyết liên quan 1.1 Thuyết hai yếu tố của Frederick Herzberg Thuyết hai yếu tố của Frederick Herzberg: Thuyết hai nhân tố được nhà tâm lý học người Mỹ Frederick Herzberg khởi xướng năm 1959.
Với quan điểm cho rằng quan hệ của một cá nhân với công việc là yếu tố cơ bản và thái độ của một người đối với công việc rất có thể quyết định sự thành bại, Herzberg đã xem xét kỹ câu hỏi “Mọi người muốn gì từ công việc của mình?”. Những câu trả lời được xếp thành bảng và phân theo mục. Từ những câu trả lời được phân theo mục, Herzberg kết luận rằng những câu trả lời mà mọi người đưa ra khi họ có cảm giác tốt về công việc của mình rất khác so với những câu trả lời đưa ra khi họ cảm thấy tồi tệ[4]. Học thuyết này phân ra làm hai nhóm yếu tố có tác dụng tạo động lực: - Nhóm các yếu tổ thúc đẩy – tạo nên sự thỏa mãn - Nhóm các yếu tố duy trì – ngăn ngừa sự bất mãn Ông cho rằng khi người lao động được đáp ứng đầy đủ các yếu tố ở nhóm duy trì thì họ chỉ duy trì khả năng làm việc với năng suất bình thường, chứ chưa có được động cơ phù hợp nào để họ phải cố gắng nâng năng suất lao động cao hơn.
Người lao động làm việc cho một tổ chức hay cá nhân nào đó là hình thức bán sức lao động, nên họ luôn mong muốn được nhận được sự trả công bằng hoặc cao hơn sức lực mà họ đã bỏ ra, nhưng thông thường lại có xu hướng muốn bỏ ít sức lực hơn phần giá trị tiền công mà họ được nhận. Do đó nhà quản trị phải thường xuyên theo dõi, giám sát người lao động để có kết quả lao động mà nhà quản trị mong muốn. Muốn vậy, tổ chức của họ phải được quản trị một cách hợp lý và tạo điều kiện làm việc tốt nhất để người lao động duy trì khả năng làm việc ổn định. Đây là nhóm các yếu tố cơ bản, nếu một trong những yếu tố này không được nhà quản trị quan tâm, củng cố, duy trì thì sẽ tạo nên tâm lý bất mãn cho người lao động, năng suất làm việc sẽ giảm sút.
Ngược lại nếu các yếu tố này được duy trì tốt thì người lao động sẽ 9 cảm nhận được đây là điều đương nhiên mà nhà quản trị phải có nghĩa vụ tạo ra cho họ, năng suất lao động sẽ được họ duy trì ở mức bình thường. Các yếu tố đặc trưng của 1.844 sự kiện trong Các yếu tố đặc trưng của 1.753 sự kiện công việc dẫn tới sự bất mãn cực độ trong công việc dẫn tới sự thỏa mãn cực độ Tỷ lệ % Các yếu tố tạo động lực Các yếu tố duy trì Hình 1.2 –So sánh các yếu tố làm thảo mãn và gây bất mãn (Nguồn:trang 92, Bùi Anh Tuấn – Phạm Thúy Hương. Hành vi tổ chức) Nhưng nếu nhà quản trị biết quan tâm đến nhóm yếu tố thứ 2 và tạo ra nhiều hình thức để khuyến khích người lao động, để người lao động thấy rằng công việc mà họ đang làm rất thú vị và có ý nghĩa, giúp cho họ gợi mở được những khả năng tiềm ẩn của bản thân, mở ra cho họ nhiều cơ hội để phát triển, thì họ sẽ hăng say và háo hức làm việc. Một công việc khó đi đôi với phần thưởng xứng đáng luôn có giá trị tác động mãnh liệt đến tinh thần của người lao động.
Và khi công việc thiếu các yếu tố trên chắc chắn sẽ gây ra cho người lao động tâm trạng không hài lòng, chán nản, thiếu sức phấn đấu cho những công việc khó, họ sẽ thiếu hẳn sự thích thú làm việc, công việc sẽ trở nên bình thường, nhàm chán dẫn đến năng suất lao động 10 giảm. Từ đó Herzberg cho rằng một tổ chức nên cố gắng cải thiện các yếu tố ở nhóm duy trì và ngày càng gia tăng các yếu tố ở nhóm thúc đẩy nếu họ muốn có sự hưởng ứng tích cực của nhân viên.1 Các yếu tố mang lại sự thỏa mãn trong công việc [6] Thành đạt, thành tích Là sự thỏa mãn của cá nhân khi hoàn thành một công việc, giải quyết các vấn đề và nhìn thấy những thành quả từ nỗ lực của mình. Đặc biệt là những công việc có tính thách thức, khác với các nhiệm vụ thông thường. Sự công nhận, thừa nhận Sự ghi nhận khi hoàn thành tốt một công việc, điều này có thể được tạo ra từ bản thân từng cá nhân hoặc từ sự đánh giá của mọi người và tổ chức, đặc biệt là đánh giá của lãnh đạo tổ chức hoặc người quản lý.
Bản thân công việc Sự ảnh hưởng tích cực từ công việc lên mỗi người. Một người sẽ hứng thú làm một công việc sáng tạo và thách thức, phù hợp với chuyên môn và định hướng phát triển. Ngược lại, sẽ không có nhiều hứng thú khi phải làm các công việc nhàm chán hoặc không phù hợp với khả năng. Trách nhiệm Mức độ ảnh hưởng của một người với công việc.
Mức độ kiểm soát của một người với công việc có thể bị ảnh hưởng phần nào bởi quyền hạn và trách nhiệm đi kèm với nó. Sự thăng tiến và cơ hội phát triển Là những cơ hội thăng tiến trong doanh nghiệp. Cơ hội phát triển cũng xuất hiện nếu trong công việc hàng ngày người ta có quyền quyết định nhiều hơn để thực thi các sáng kiến.2 Các yêu tố duy trì [6] Chính sách quản lý 11 Điều này có nghĩa là toàn bộ các hoạt động của doanh nghiệp được quản lý và tổ chức thế nào. Nếu các chính sách của doanh nghiệp mâu thuẫn với mục đích của các bộ phận hoặc cá nhân thì điều đó sẽ mang lại những hậu quả xấu.