CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TẠO ĐỘNG LỰC THÚC ĐẨY NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG CÁC DOANH NGHIỆP 1. KHÁI NIỆM VÀ Ý NGHĨA 1. Một số khái niệm a. Nhân lực - Theo giáo trình kinh tế nguồn nhân lực, Đại học Kinh tế TP.
Hồ Chí Minh thì Nhân lực là sức lực của mỗi con người, bao gồm sức mạnh cơ bắp, trí não và thần kinh của con người được sử dụng để phục vụ đời sống cho bản thân và tổ chức. Sức lực đó ngày càng phát triển cùng với sự phát triển của cơ thể con người. - Theo sách Quản trị nhân lực, Đại học Kinh tế quốc dân Hà Nội: Nhân lực là nguồn lực của mỗi con người, gồm thể lực, trí lực và nhân cách của người lao động. Nó phản ánh sức người và khả năng lao động của con người.
Tác giả đồng ý với nhận định này. Nguồn nhân lực Có nhiều ý kiến khác nhau xung quanh khái niệm nguồn nhân lực. - Nguồn nhân lực là nguồn tài nguyên của tổ chức, đó là tập hợp nhiều cá nhân có nhân cách khác nhau với những nhu cầu và tâm lý khác nhau, là toàn bộ đội ngũ nhân viên của tổ chức, vừa có tư cách là khách thể của hoạt động quản lý vừa là chủ thể hoạt động và là động lực của tổ chức đó. - Theo sách Quản trị nhân lực, Đại học Kinh tế quốc dân Hà Nội: Nguồn nhân lực là tổng hợp cá nhân những con người cụ thể tham gia vào quá trình lao động, là tổng thể các yếu tố về thể chất và tinh thần được huy động vào quá trình lao động.
- Trường phái hiện đại của quản trị nguồn nhân lực là khai thác các tiềm Luan van 8 năng của con người. Do vậy, theo tác giả thì Nguồn nhân lực là tổng thể những tiềm năng của con người (trước hết và cơ bản nhất là tiềm năng lao động) gồm: thể lực, trí lực, nhân cách của con người nhằm đáp ứng yêu cầu của một tổ chức nhất định. Nhu cầu của người lao động - Nhu cầu là đòi hỏi, mong muốn, nguyện vọng của con người về vật chất, tinh thần cần được đáp ứng và thỏa mãn. Tùy theo trình độ nhận thức, môi trường sống, những đặc điểm tâm sinh lý, mỗi người có những nhu cầu khác nhau.
- Nhu cầu là cảm giác thiếu hụt một cái gì đó mà con người cảm nhận được. Như vậy cảm giác thiếu hụt một cái gì đó mà con người cảm nhận được đó là một trạng thái đặc biệt của con người, sự thiếu hụt ấy đòi hỏi phải được thoả mãn, bù đắp. Do đó, nhu cầu là yếu tố thúc đẩy con người hoạt động. Nhu cầu càng cấp bách thì khả năng chi phối con người càng cao.
Về mặt quản lý, kiểm soát được nhu cầu đồng nghĩa với việc có thể kiểm soát được cá nhân (trong trường hợp này, nhận thức có sự chi phối nhất định: nhận thức cao sẽ có khả năng kiềm chế sự thoả mãn nhu cầu). Nhu cầu của một cá nhân là đa dạng và vô tận, người quản lý chỉ kiểm soát những nhu cầu có liên quan đến hiệu quả làm việc của cá nhân. Nếu tìm cách thoả mãn nhu cầu nào đó của cá nhân đồng thời biết cách tạo ra một nhu cầu khác theo định hướng của mình, thì người lãnh đạo có thể chi phối được cá nhân. - Một khi nhu cầu của người lao động được thoả mãn thì mức độ hài lòng của người lao động về công việc và tổ chức của mình sẽ tăng lên và nhờ vậy họ sẽ gắn kết nhiều hơn với tổ chức.
Động cơ thúc đẩy người lao động - Trong kinh tế học, động cơ là cái có tác dụng chi phối, thúc đẩy người ta suy nghĩ và hành động gắn liền với việc thoả mãn nhu cầu của con người. Luan van 9 - Động cơ ám chỉ cả nỗ lực bên trong lẫn bên ngoài của một con người, có tác dụng khơi dậy lòng nhiệt tình và sự kiên trì theo đuổi một cách thức hành động đã xác định. - Có thể nói, người lao động có động cơ làm việc một cách tự nhiên. Động cơ này bắt nguồn từ một thực tế là mọi người mong muốn được khẳng định bản thân mình, được thành đạt, được tự chủ và có thẩm quyền đối với công việc của mình, cũng như muốn có thu nhập đảm bảo cuộc sống cá nhân sung túc.
Chính vì vậy, để người lao động làm việc tốt thì người quản lý cần phải loại trừ những hoạt động tiêu cực có thể triệt tiêu động cơ làm việc tự nhiên của người lao động. Kế tiếp, cần phải phát triển những yếu tố thực sự có thể thúc đẩy tất cả các nhân viên làm việc. Động lực thúc đẩy người lao động - Tác giả đồng ý với nhận định cho rằng: Động lực là cái thúc đẩy, kích thích người lao động làm việc và cống hiến. - Động lực thúc đẩy là một chuỗi phản ứng nối tiếp nhau.
Bắt đầu xuất phát là nhu cầu rồi đến mong muốn và các mục tiêu và dẫn đến sự thôi thúc (làm sao cho nhu cầu được thoả mãn) và tiếp đó dẫn đến hành động để đạt được các mục tiêu và cuối cùng là thoả mãn những điều mong muốn. Tạo động lực thúc đẩy - Tạo động lực được hiểu là tổng thể các chính sách, biện pháp, công cụ, nghệ thuật quản lý tác động lên người lao động nhằm thúc đẩy họ phấn khởi, hăng say, tự nguyện hơn khi làm việc để thực hiện mục tiêu của tổ chức và người lao động một cách có hiệu quả. Một số học thuyết tạo động lực - Thuyết phân cấp nhu cầu của Abraham Maslow Theo Abraham Maslow, nhu cầu của con người có thể chia làm 5 bậc, được xếp từ thấp đến cao theo thứ tự. Luan van 10 Hình 1.1: Hệ thống cấp bậc nhu cầu của Maslow + Nhu cầu sinh lý: Bao gồm những thứ cần thiết cho sự sống như không khí, thức ăn, nước uống, nơi ở, nghỉ ngơi.
Những nhu cầu này là những nhu cầu thứ yếu bởi vì nó tạo cho ta sự sống còn và tồn tại. + Nhu cầu an toàn: là nhu cầu cần được bảo vệ cả về tinh thần lẫn vật chất, cần có cảm giác yên tâm về sức khỏe, việc làm, gia đình, tài sản. + Nhu cầu được công nhận: là nhu cầu được giao lưu tình cảm, muốn được đứng trong một tổ chức nào đó. Mọi người đều cần cảm thấy được yêu thương và được quan tâm, và nhu cầu nay đưa chúng ta đến việc tìm kiếm những mối quan hệ có ý nghĩa.
Tìm kiếm sự hợp tác và tình bằng hữu là rất quan trọng ở cấp độ này. + Nhu cầu được tôn trọng: là nhu cầu được quí trọng, kính mến. Bao gồm sự được công nhận của những người có địa vị hoặc là những đồng nghiệp. Sự phát triển của lòng tự tin và sự hiện thân.
Ở cấp độ này, bạn bắt đầu đánh giá cao bản thân mình. + Nhu cầu tự khẳng định mình: Là nhu cầu thực hiện khát vọng, là thông qua nỗ lực của bản thân biến mong muốn của mình thành hiện thực, từ đó tìm thấy ý nghĩa của cuộc sống và công việc. Đây là cấp độ cao nhất trong thang bậc Luan van 11 nhu cầu. Như vậy, theo Abraham Maslow, để tạo động lực cho người lao động người lãnh đạo cần phải hiểu nhu cầu của từng người lao động, từng nhóm người lao động để có thể đáp ứng một cách thích đáng và đúng lúc làm cho họ cảm thấy được quan tâm và phấn khởi.
Trong một doanh nghiệp nhu cầu cơ bản có thể được đáp ứng thông qua việc trả lương tốt và công bằng, các khoản phúc lợi…(tiền lương). Để đáp ứng nhu cầu quan hệ, người lao động cần được tạo điều kiện làm việc theo nhóm, được tạo cơ hội để mở rộng giao lưu thông qua các hoat động vui chơi, giải trí nhân các dịp kỷ niệm (các hoạt động tinh thần). Các nhà quản lý cần có cơ chế đánh giá kết quả thực hiện công việc (đánh giá thành tích) và chính sách khen ngợi, tôn vinh thành tích và phổ biến thành quả của cá nhân một cách rộng rãi. Đối với nhu cầu tự hoàn thiện, người quản lý cần cung cấp các cơ hội phát triển những thế mạnh cá nhân.
Đồng thời, người lao động cần được đào tạo, được khuyến khích tham gia vào quá trình cải tiến của tổ chức và được tạo điều kiện để họ tự phát triển nghề nghiệp (đào tạo). - Thuyết ERG của Clayton Học thuyết ERG của P.Alderfer là sự tiếp tục kiểm nghiệm và giải thích các tư tưởng của Maslow. Nhìn chung lý thuyết này giống như thuyết nhu cầu cấp bậc của Maslow, tuy nhiên có một số khác biệt như sau: + Một là, số lượng nhu cầu được rút gọn còn ba thay vì năm, đó là nhu cầu tồn tại (Existence need), nhu cầu liên đới (Relatedness need) và nhu cầu phát triển (Growth need). + Hai là, khác với Maslow, Alderfer cho rằng, có thể có nhiều nhu cầu xuất hiện trong cùng một thời điểm (Maslow cho rằng chỉ có một nhu cầu xuất hiện ở một thời điểm nhất định).
Luan van 12 + Ba là, là yếu tố bù đắp giữa các nhu cầu, một nhu cầu không được đáp ứng có thể được bù đắp bởi nhu cầu khác (Kreitner & Kinicki, 2007). Ví dụ: Một nhân viên không được đáp ứng nhu cầu về thu nhập nhưng có thể được bù đắp bởi môi trường làm việc tốt, công việc phù hợp, cơ hội được đào tạo thăng tiến,… trong khi Maslow thì không thừa nhận điều đó.2: Thuyết ERG của Alderfer (Nguồn: www.net) Các nhà quản trị có thể ứng dụng thuyết này trong việc tạo động lực thúc đẩy. Trước tiên cần quan tâm đến nhu cầu về tiền lương của người lao động. Tiếp theo là thỏa mãn nhu cầu giao tiếp của họ (hoạt động tinh thần, môi trường làm việc).
Các nhà quản lý cần có cơ chế đánh giá kết quả thực hiện công việc và chính sách khen ngợi hợp lý (đánh giá thành tích). Việc tạo ra môi trường làm việc có tính nhân văn, một nền văn hóa doanh nghiệp đặc thù cho phép con người cân bằng giữa công việc và cuộc sống cá nhân tạo được động lực thúc đẩy rất lớn. - Học thuyết công bằng của J.Stacy Adams + Thuyết công bằng đưa ra quan niệm cho rằng, con người muốn được đối xử một cách công bằng. Mọi người thường có mong muốn nhận được những phần thưởng tương xứng với những đóng góp hay công sức mà họ đã bỏ ra.