CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TẠO ĐỘNG LỰC LAO ĐỘNG 1. Các khái niệm liên quan đến tạo động lực 1. Khái niệm động lực lao động Theo hai tác giả Mai Thanh Lan, Nguyễn Thị Minh Nhàn (2016), cho rằng nguồn lao động luôn được xem là vấn đề đáng quan tâm với mọi doanh nghiệp. Các nhà lãnh đạo luôn mong muốn có thể tận dụng được nguồn lực này một cách hiệu quả nhất.
Tuy nhiên, bản chất của mỗi người lao động là một cá thể khác nhau, mỗi người có những mong muốn, nguyện vọng và nhu cầu khác nhau. Do vậy đối với công việc, dù có cùng điều kiện làm việc như nhau nhưng mỗi người lao động cũng có sự hăng say, nhiệt tình khác nhau, tùy thuộc sự hài lòng và mong muốn cá nhân. Đây là một vấn đề khó đối với các nhả quản trị, họ phải có những sự thấu hiểu đối với người lao động của mình, rút ra được những ham muốn cần đáp ứng, từ đó tạo được động lực cho người lao động. Vậy, động lực lao động là gì? Có rất nhiều những phân tích của các chuyên gia, nhà nghiên cứu đưa ra những nhận định của riêng mình như sau: Theo TS Bùi Anh Tuấn (2011): “Động lực lao động là những nhân tố ở bên trong nhằm kích thích con người nỗ lực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu quả cao.
Biểu hiện của động lực lao động là sự sẵn sàng nỗ lực, say mê làm việc nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức cũng như của bản thân người lao động”. Định nghĩa về động lực lao động này của TS Bùi Anh Tuấn là định nghĩa rõ ràng, ngắn gọn, dễ hiểu cho người đọc. Tương tự như quan điểm của TS Bùi Anh Tuấn, theo ThS. Nguyễn Vân Điềm và PGS.TS Nguyễn Ngọc Quân (2009), trong giáo trình Phát triển nguồn nhân lực nêu rõ: ‘‘Đào tạo nguồn nhân lực được hiểu là các hoạt động học tập nhằm giúp người lao động có thể thực hiện hiệu quả hơn chức năng và nhiệm vụ của mình.
Đó chính là quá trình học tập làm cho người lao động nắm vững hơn về công việc của mình, là những hoạt 4 động học tập nhằm nâng cao trình độ, kỹ năng của người lao động để thực hiện nhiệm vụ lao động hiệu quả hơn”. Như vậy, có thể nói, động lực lao động là những nhân tố tác động đến người lao động theo hướng trực tiếp hay gián tiếp, những động lực này chạm được tới mong muốn của người lao động, kích thích người lao động làm việc hăng say, cống hiến bản thân cho công việc, cho tổ chức. Động lực lao động là hình thức không thể bắt ép, bản chất của nó là sự tự nguyện. Người lao động luôn thích làm việc với tinh thần thoải mái, tích cực, chủ động.
Nhưng đồng thời động lực lao động cũng cần được tạo ra theo khuôn khổ của từng doanh nghiệp, phù hợp với môi trường lao động riêng của tổ chức. Người lao động có tay nghề , có năng lực luôn hoàn thành công việc của mình nhưng không đảm bảo được công việc ấy liệu có đạt được mức tối ưu hay không, hay liệu rằng người lao động đã làm hết khả năng của mình chưa. Và điều đó cũng khiến cho nhà quản lý khó xác định được công việc đã đạt được hiệu quả cao nhất hay chưa. Nhưng, khi có thể tạo được một nguồn động lực đủ để thu hút người lao động, họ sẽ cố gắng làm việc với hết khả năng của bản thân để hoàn thành công việc.
Điều này vô cùng có lợi cho doanh nghiệp, nguồn nhân lực hoạt động với năng suất cao nhất góp phần to lớn cho sự phát triển của tổ chức, tạo nên sức cạnh tranh cao so với các tổ chức khác trong ngành, hay trong nền kinh tế. Vai trò và tầm quan trọng của tạo động lực lao động Theo tác giả Trần Thị Kim Dung (2003) – tác giả của cuốn giáo trình “Quản trị nguồn nhân lực” cho rằng động lực lao động có ảnh hưởng lớn tới nguồn nhân lực trong tổ chức. Vai trò của tạo động lực lao động được biểu hiện qua: a. Đối với người lao động - Kích thích khả năng làm việc: Động lực làm việc phù hợp sẽ là đòn bẩy thúc đẩy sự nhiệt tình hăng say làm việc của người lao động, niềm vui làm việc tạo ra năng suất làm việc cao.
NLĐ lúc này tạo ra được môi trường làm việc tích cực, họ không chỉ nỗ lực 5 phát triển năng lực bản thân, cống hiến hết mình cho công việc. đẩy mạnh thi đua giữa những NLĐ với nhau. - Nâng cao hiệu quả công việc: Với sự cố gắng, nỗ lực làm việc của NLĐ dẫn tới kết quả làm việc tăng, mỗi nhân viên trong công ty đều nỗ lực làm việc sẽ tạo nên một tiềm lực lớn cho doanh nghiệp. Mọi công việc đều đạt mức độ cao là nguồn lợi lớn cho tổ chức.
NLĐ lúc này làm việc không phải chỉ vì thu nhập cá nhân, mà lợi ích dần hướng tới mục tiêu chung của doanh nghiệp. - Góp phần nâng cao sức lao động: NLĐ khi có động lực tác động, họ sẽ cố gắng để đạt được những thành quả. Động lực lao động có thể là về cả vật chất và tinh thần, tâm lý của NLĐ tạo ra sự hào hứng trong công việc, tâm lý ấy cũng là nguyên nhân khiến sức lao động của NLĐ được gia tăng. Đối với doanh nghiệp - Tạo dựng mối quan hệ tốt đẹp giữa lao động với tổ chức, giữ chân nhân viên giỏi, giảm tỉ lệ nghỉ việc: Khi có động lực lao động, NLĐ sẽ nỗ lực để hoàn thành công việc.
Điều này sẽ có lợi cho cả NLĐ và doanh nghiệp, tạo nên mối quan hệ tốt đẹp, đôi bên cùng có lợi. Người lao động sẽ thích làm việc tại tổ chức đem đến lợi ích, sự thoải mái và ổn định cho họ, khi đó, họ sẽ lựa chọn làm việc lâu dài. - Giảm thời gian, chi phí đào tạo và tuyển nhân viên mới: Việc giữ chân được nhân viên cũ đồng nghĩa với việc nguồn nhân lực không phải thay đổi liên tục, chi phí thuê nhân công mới từ đó giảm. Đây là điều mà mọi doanh nghiệp đều mong muốn, bởi một trong những mục tiêu kinh doanh là có thể giảm các chi phí phát sinh không cần thiết một cách tối đa.
Việc giữ chân được các nhân viên lâu năm, có kinh nghiệm giúp tổ chức duy trì hoạt động ổn định, không tốn thời gian và công sức để đào tạo nhân viên mới. - Tăng hiệu quả sử dụng lao động: Sử dụng nguồn lao động hiệu quả luôn là một vấn đề khó đối với các nhà quản trị không chỉ ở Việt Nam mà còn trên toàn thế giới. Tạo động lực lao động là một trong những cách giúp NQL giải quyết được vần đề ấy. Tạo 6 được động lực cho NLĐ, hỗ trợ nâng cao chất lượng công việc cho thấy NQL đã sử dụng được nguồn nhân lực hiệu quả.
- Là nền tảng tăng doanh số, cải thiện lợi nhuận: NLĐ có động lực làm việc, thành quả lao động của NLĐ cũng tăng lên. Người lao động cho ra nhiều sản phẩm hơn, nhà lãnh đạo đưa ra được nhiều chiến lược tốt hơn, doanh nghiệp có được nhiều thành phẩm, gia tăng lượng hàng hóa dịch vụ ra thị trường, doanh số và lợi nhuận của tổ chức từ đó tăng lên. Đối với xã hội Với mỗi đất nước, mỗi doanh nghiệp giống như tế bào, hình thành nền một nền kinh tế mạnh hay yếu đều dựa vào sự cố gắng của từng cá nhân doanh nghiệp. Việc kích thích được những người lao động trong một doanh nghiệp làm việc hăng say sẽ khiến cho doanh nghiệp phát triển, tạo được sự cạnh tranh cao cho doanh nghiệp.
Nếu tất cả các doanh nghiệp đều tạo được những ưu thế phát triển, nền kinh tế của đất nước được đẩy mạnh, có sức cạnh tranh với các đối thủ khác, thu hút được sự quan tâm từ các đất nước phát triển, tạo cơ hội hợp tác với nhiều đất nước hơn. Cùng với sự phát triển về kinh tế, sự phát triển về văn hóa xã hội cũng không tránh khỏi ảnh hưởng. Bởi, kinh tế - văn hóa – xã hội là những yếu tố gắn liền với nhau. Để nền kinh tế của một tổ chức phát triển, đồng nghĩa với văn hóa doanh nghiệp cũng có những chuyển biến tích cực, hỗ trợ cho hoạt động phát triển kinh tế.
Văn hóa doanh nghiệp thay đổi, tạo nên những nền văn hóa trong kinh doanh của đất nước đồng thời cũng có những thay đổi tích cực tương ứng. Vì vậy, không phải chỉ những doanh nghiệp mới cần chú ý đến vấn đề tạo động lực cho người lao động, mà đây còn là vấn đề chung của toàn đất nước. Nhà nước cần có những quan tâm thêm, đưa ra những chính sách vào thời điểm phù hợp đối với các chế độ lương, về các loại bảo hiểm cho người lao động,… 7 1. Tổng quan nghiên cứu về động lực lao động tại các doanh nghiệp.
Các học thuyết nghiên cứu quốc tế nổi bật 1. Học thuyết nhu cầu của Maslow Học thuyết nhu cầu của Maslow là học thuyết nổi tiếng được công bố vào năm 1943 của nhà tâm lý học nổi tiếng Abraham Maslow. Đây là học thuyết quen thuộc với tất cả người học về kinh tế hay nhà nghiên cứu kinh tế nào, một học thuyết nhận dạng các nhu cầu tự nhiên của con người. Maslow sau đó đã mở rộng ý tưởng của mình thông qua các quan sát về tính tò mò bẩm sinh của con người.
Trong học thuyết, Maslow cho rằng con người có năm thức bậc nhu cầu. Các nhu cầu được chia theo các bậc nhu cầu tăng dần gồm: + Các nhu cầu bậc thấp: sinh lý, an toàn + Các nhu cầu bậc cao: xã hội, được tôn trọng, tự hoàn thiện Hình 1. Tháp nhu cầu của Maslow Nguồn: Maslow, 1943 8 + Bậc 1: Nhu cầu sinh lý (Basic Needs) là những nhu cầu nguyên thủy nhất của một con người. Nếu những nhu cầu nguyên thủy này không được đáp ứng, con người khó có thể sống sót như nhu cầu về ăn ngủ, chỗ ở, thực phẩm, nước uống, không khí,…Ví dụ: NLĐ khi làm việc luôn được trả một mức lương cơ bản.
Mức lương này được tính toán và đảm bảo đủ chi trả cho các nhu cầu tối thiểu cơ bản như: chi phí ăn uống 3 bữa/ ngày, chi phí đi lại và một số chi phí khác. + Bậc 2: Nhu cầu được an toàn (Security and Safety Needs) Sau nhu cầu sinh lý là nhu cầu an toàn. Mong muốn được an toàn là tâm lý cơ bản của con người.