CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC TẠO ĐỘNG LỰC CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG 1. Các định nghĩa cơ bản về tạo động lực cho người lao động 1. Động lực, tạo động lực 1. Động lực là gì? Động lực lao động là gì? Động lực được hiểu là động cơ thúc đẩy các hoạt động, trạng thái nội tại của con người.
Giúp con người có thêm sinh lực, cảm xúc để làm việc hiệu quả hơn. Hay theo Bùi Anh Tuấn (2009), “Động lực là những nhân tố bên trong kích thích con người nỗ lực làm việc trong những điều kiện cho phép tạo ra năng suất hiệu quả cao.” Như vậy, khi có động lực, con người sẽ làm việc có hiệu quả hơn, sẵn lòng để hoàn thành nhiệm vụ của mình. Động lực lao động là sự khao khát và tự nguyện, giúp tăng cường sự nỗ lực của con người, nhằm đem lại những kết quả phù hợp như mong muốn. Khi có động lực lao động, con người sẽ thực hiện công việc tốt hơn, hiệu quả hơn và ngược lại.
Đối với các công ty, doanh nghiệp, việc tạo động lực cho người lao động là một việc cực kì cần thiết và chính đáng. Do vậy, việc nắm bắt được các cách tạo động lực sẽ giúp cho công ty/doanh nghiệp có được nhiều lợi ích thiết thực hơn. Động lực lao động xuất phát từ các nhu cầu của con người, và khi các nhu cầu đó được đáp ứng một phần hoặc đáp ứng toàn bộ, con người sẽ có tinh thần tốt để thúc đẩy công việc, hoàn thành công việc được tốt hơn. Động lực lao động sẽ có các đặc điểm như sau: - Gắn liền với một công việc của một cá nhân hoặc một tổ chức hay một môi trường cụ thể của người lao động.
- Động lực lao động là yếu tố luôn luôn thay đổi trong mỗi thời điểm khác nhau. Ở mỗi một giai đoạn, con người sẽ quan tâm hơn đến các yếu tố khác nhau nên cần có các biện pháp tạo động lực phù hợp để người lao động có được động lực phù hợp nhất. - Động lực lao động không phải là yếu tố bắt buộc với mọi doanh nghiệp 5 nhưng để thu được những hiệu quả cao, năng suất tốt, sự gắn bó của người lao động với công ty, doanh nghiệp là những yếu tố thúc đẩy tốt nhất. Do vậy, nhà quản trị nên có được những biện pháp để thúc đẩy hiệu quả công việc dành cho người lao động một cách tốt nhất.
Tóm lại, để đạt được mục tiêu phát triển và có được những hướng đi đúng đắn, công ty cần có những chính sách tạo động lực phù hợp. Với mỗi nhóm người lao động sẽ có nhu cầu, mong muốn khác nhau nên tổ chức cũng cần tạo điều kiện và thúc đẩy động lực lao động để họ nỗ lực hơn mỗi ngày. Tạo động lực lao động là gì? Bất kỳ một công ty, doanh nghiệp nào cũng mong muốn có được hiệu suất cao từ người lao động. Tuy nhiên, để đạt được điều này thì mỗi tổ chức cần phải biết cách tạo động lực lao động.
Vậy, tạo động lực lao động được hiểu là gì? Tạo động lực lao động được hiểu là tất cả các hoạt động mà một doanh nghiệp có thể thực hiện được đối với người lao động, tác động đến khả năng làm việc, tinh thần thái độ làm việc nhằm đem lại hiệu quả cao trong lao động. (Trần Xuân Cầu, 2008) Có rất nhiều biện pháp tạo động lực khác nhau dành cho người lao động. Phần lớn, các cách tạo động lực đều liên quan đến lợi ích nhận được của người lao động, bởi đây chính là yếu tố tác động nhiều nhất đến tinh thần làm việc của con người. Mục đích của tạo động lực lao động Tạo động lực trong công việc dành cho lao động là một trong những việc cần thiết, giúp cho doanh nghiệp có được nhiều lợi ich thiết thực hơn.
Các mục đích chính của việc tạo động lực lao động bao gồm: Khai thác, phát huy được những tiềm năng của người lao động: Đây là một mục tiêu quan trọng nhất của việc tạo động lực. Bởi con người là một yếu tố quan trọng nhất của bất kì công ty, doanh nghiệp nào. Bên cạnh đó, khả năng và sức mạnh tiềm ẩn của con người là vô hạn nên rất có thể những biện pháp thúc đẩy động lực phù hợp sẽ giúp con người có được những thành tựu đặc biệt về công việc hơn. 6 Tạo sự gắn bó lâu dài và thu hút nhân tài về cho tổ chức: Đây cũng là một mục đích quan trọng của việc tạo động lực dành cho nhân viên.
Với những người được tạo động lực thường xuyên và một môi trường tốt sẽ giúp cho con người gắn bó lâu dài hơn với công ty, doanh nghiệp đó. Bên cạnh đó, việc hút các nhân tài để làm việc và cống hiến cho tổ chức cũng là một việc cực kì cần thiết. Giúp cho tổ chức lớn mạnh hơn, tạo ra nhiều giá trị lợi ích hơn. Giúp người lao động tự hoàn thiện bản thân: Một mục đích quan trọng trong việc tạo động lực đó là giúp những người lao động tự hoàn thiện được bản thân mình.
Chính những động lực phù hợp sẽ giúp họ phát huy được những điểm mạnh của bản thân và tìm thấy được những khả năng tiềm ẩn của mình. Góp phần làm cho xã hội phát triển tươi đẹp hơn: Đây là một yếu tố cực kì quan trọng khi xung quanh mỗi người đều có rất nhiều sự lựa chọn và mong muốn khác nhau. Tạo động lực lao động sẽ góp phần làm cho đời sống của con người trở nên tốt đẹp hơn, góp phần xây dựng một xã hội vững mạnh, giàu đẹp. Như vậy, các mục đích của việc tạo động lựa cho nhân viên thường có lợi hơn cho doanh nghiệp và hướng đến những quyền lợi trực tiếp dành cho người lao động.
Các mục đích này sẽ không có quá nhiều khó khăn, đều là những nhu cầu cơ bản của con người. Chính vì vậy, nhà quản trị nhân lực nên có sự nắm bắt phù hợp để thu được nhiều lợi ích về cho công ty, doanh nghiệp của mình. Sự cần thiết phải hoàn thiện công tác tạo động lực cho người lao động 1. Đối với cá nhân Để đạt được hiệu quả tốt thì con người là một trong những yếu tố cốt lõi.
Và cách tạo động lực cho mỗi người sẽ có những ý nghĩa cực kì lớn. Khi con người có động lực, họ sẽ có nhiều ý tưởng để làm việc, năng lượng mỗi ngày sẽ cao hơn, giúp họ sáng tạo hơn. Có động lực, chắc chắn người lao động cũng là việc hăng say hơn, năng suất hơn, hiệu quả hơn. Ngược lại, khi không có động lực, người lao động sẽ làm việc theo khuôn mẫu hoặc những cách truyền thống cũ kĩ.
Dẫn đến hiệu quả không được như mong muốn. Người lao động không được tin tưởng. Chính những điều này sẽ ảnh hưởng 7 trực tiếp đến người lao động và đem đến những hậu quả dành cho công ty, doanh nghiệp. Bên cạnh đó, tạo động lực cho người lao động là một công tác cần thiết, là sự phát triển tất yếu của một tổ chức nếu muốn đi đường dài và có được hiệu quả trong tương lai.
Đối với doanh nghiệp Thực tế, năng suất lao động là một trong những yếu tố quan trọng của mỗi doanh nghiệp. Năng suất lao động tốt, lợi nhuận của doanh nghiệp càng cao, doanh nghiệp càng phát triển mạnh. Do vậy, làm thế nào để tạo động lực được cho người lao động là một vấn đề quan trọng của bộ phận quản lý và phòng nhân sự của công ty. Ngoài ra, khi người lao động có động lực làm việc, họ sẽ làm việc tốt hơn.
Và khi chính bản thân họ nhận thấy được những sự tiến bộ và động lực đó, họ sẽ làm việc chăm chỉ hơn và có ý định gắn bó lâu dài với công ty. Chính điều này là một điểm sáng để mỗi công ty thu hút nhân tài, cạnh tranh nhân sự, thu hút nhân tài so với các công ty, doanh nghiệp khác. Điều này sẽ giúp cho tổ chức tiết kiệm được chi phí tuyển dụng lao động, chi phí đào tạo và dễ dàng quản lý hơn. Các học thuyết cơ bản về tạo động lực cho người lao động Từ xa xưa, con người đã biết đến các cách tạo động lực khác nhau.
Và điểm chung của các học thuyết này đều hướng đến sự thỏa mãn của con người để nâng cao thành tích lao động. Các biện pháp này được các chuyên gia tiếp cận và đúc kết thành các học thuyết để áp dụng cho các tổ chức sau này hoặc các thế hệ mãi về sau. Học thuyết tháp nhu cầu của Maslow Maslow hiểu rằng, ở mỗi con người đều có những nhu cầu và mong muốn khác nhau cần được thỏa mãn. Chính vì vậy, Maslow đã nghiên cứu và đúc kết lại được các nhu cầu theo thứ tự nhất định.
Theo ông con người có năm tầng nhu cầu cần được thỏa mãn. Đó là nhu cầu về sinh lý, nhu cầu an toàn, nhu cầu giao tiếp xã hội, nhu cầu được tôn trọng và nhu cầu được khẳng định mình. - Nhu cầu sinh lý được hiểu là những nhu cầu cơ bản nhất của một con người. Đó là đồ ăn, nước uống, là nơi ở.
Những nhu cầu này sẽ là nhóm nhu cầu cần được thỏa mãn đầu tiên. Chính vì vậy, nhà quản lý cần nắm bắt được để tạo nhu cầu cho nhân viên của mình, có động lực làm việc hiệu quả hơn. - Nhu cầu an toàn là nhóm nhu cầu cơ bản thứ hai theo tháp nhu cầu Maslow. Đối với những người lao động ở nhóm này, họ cần được ổn định, chắc chắn.
Ngoài các nhu cầu cơ bản, họ còn mong muốn được bảo vệ khỏi những rủi ro, bất trắc. Nên mong muốn của những người lao động ở giai đoạn này, ngoài tiền lương thì các loại bảo hiểm là điều cần thiết. - Nhu cầu giao tiếp xã hội: Đây là nhu cầu con người muốn được mở rộng mối quan hệ của mình. Người lao động đã bắt đầu có nhu cầu được thể hiện mình nhiều hơn, được giao tiếp với bạn bè để chia sẻ về tình cảm, công việc.
9 - Nhu cầu được tôn trọng: là nhu cầu mà có địa vị, được người khác công nhận cũng như nhu cầu được tự tôn trọng mình. Đối với người lao động trong doanh nghiệp, nhu cầu này sẽ thường dành cho những người ở cấp quản lý. Tức khi người lao động có khả năng làm việc tốt hơn, khả năng quản lý được hơn thì họ sẽ hướng đến các vị trí cao hơn dành cho mình.