phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, nội dung chính của Luận văn bao gồm 3 chương: Chƣơng 1: Đặc thù và sự cần thiết của vấn đề tăng thu nhập cho nông dân ở Trung Quốc Chƣơng 2: Một số giải pháp cơ bản thúc đẩy tăng thu nhập cho nông dân ở Trung Quốc Chƣơng 3: Nhận xét về các giải pháp tăng thu nhập cho nông dân 8 z của Trung Quốc và một số gợi mở cho Việt Nam CHƢƠNG 1: ĐẶC THÙ VÀ SỰ CẦN THIẾT CỦA VẤN ĐỀ TĂNG THU NHẬP CHO NÔNG DÂN Ở TRUNG QUỐC 1. Một số khái niệm và đặc thù vấn đề thu nhập của nông dân Trung Quốc I. Một số khái niệm liên quan Do thu nhập là nhân tố phản ánh toàn diện hoạt động kinh doanh sản xuất của nông dân, vì vậy, để phản ánh chính xác hoạt động kinh doanh sản xuất của nông dân, trong điều tra và phân tích,ở Trung Quốc người ta đưa ra tương đối nhiều khái niệm như: tổng thu nhập, thu nhập thuần, thu nhập tiền mặt, thu nhập hiện vật, thu nhập mang tính tài sản, thu nhập mang tính tiền lương, thu nhập mang tính chuyển dịch…. - Tổng thu nhập: là tổng toàn bộ các nguồn thu nhập trong giai đoạn được điều tra, trong đó chưa bao gồm phần chi phí sản xuất và chi tiêu sinh hoạt.
Phân chia theo tính chất nguồn thu nhập, tổng thu nhập bao gồm : thu nhập mang tính tiền lương (thu nhập từ tiền công lao động), tổng thu nhập kinh doanh gia đình, thu nhập mang tính tài sản và thu nhập mang tính chuyển dịch. Phân chia theo hình thức thu nhập, tổng thu nhập bao gồm 2 bộ phận: tổng thu nhập hiện vật và tổng thu nhập tiền mặt. - Thu nhập thuần: khái niệm về thu nhập thuần được dùng đầu tiên trong thống kê “phân phối lợi tức kinh tế nông thôn” thời kỳ “công xã nhân dân”. Trong thống kê phân phối lợi tức, “thu nhập thuần” chỉ phần còn dư lại sau khi lấy tổng thu nhập kinh tế nông thôn trừ đi các khoản chi phí khác, 9 z phần còn dư lại còn được gọi là “lợi tức”.
“Thu nhập thuần” căn cứ theo các quy định có liên quan của nhà nước để phân chia cho nhà nước, tập thể và cá nhân. Phần phân phối cho cá nhân được gọi là “thu nhập cư dân nông thôn”, tức là phần dư lại sau khi lấy thu nhập thuần kinh tế nông thôn năm đó trừ đi phần thu thuế cho nhà nước và nộp lại cho tập thể. “Thu nhập thuần bình quân đầu người của nông dân” là bình quân thu nhập cư dân nông thôn trên tổng dân số nông thôn. Xét theo góc độ phân phối thu nhập, “thu nhập thuần bình quân đầu người của nông dân” chính là thu nhập lần đầu mà người nông dân có được [86].
Khái niệm “thu nhập thuần” trong thời kỳ đầu đồng nhất với khái niệm “phân phối lợi tức kinh tế nông thôn” trong thống kê, cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường XHCN và sự điều chỉnh chính sách phân phối thu nhập, cách đánh giá chỉ tiêu “thu nhập thuần” cũng có sự điều chỉnh, chủ yếu bao gồm phần thu nhập tái phân phối. Hiện nay khái niệm “thu nhập thuần” là chỉ tổng thu nhập mà cư dân nông thôn thu được từ các kênh thu nhập trong năm đó, tương ứng với thu nhập có được sau khi lấy tổng nguồn thu trừ đi những khoản chi phí phát sinh. “Thu nhập thuần bình quân đầu người nông dân” là “thu nhập thuần nông dân” bình quân dân số nông thôn. Cách tính “thu nhập thuần bình quân đầu người” là : Thu nhập thuần bình quân đầu người = (Tổng thu nhập gia đình của dân nông thôn – Chi phí kinh doanh gia đình – Khấu hao tài sản cố định dùng trong sản xuất – Tiền thuế và chi phí thuê khoán nộp lên trên – Trợ cấp theo điều tra)/ Nhân khẩu thường trú của gia đình cư dân nông thôn [86].
- Thu nhập mang tính tiền lương: là thu nhập mà hộ gia đình hoặc thành viên của hộ gia đình nông thôn thu được dựa vào việc bán sức lao động cho đơn vị hoặc cá nhân thuê lao động. Phân theo tính chất nguồn thu nhập chia thành thu nhập có được do lao động trong các tổ chức phi doanh nghiệp (như thu nhập của cán bộ, giáo viên), thu nhập có được do lao động trong các 10 z xí nghiệp tại địa phương, thu nhập do làm thuê ở bên ngoài địa phương và thu nhập có được do lao động ở các đơn vị khác. - Tổng thu nhập kinh doanh gia đình: là thu nhập mà hộ gia đình ở nông thôn có được do việc tiến hành quản lý và lên kế hoạch sản xuất lấy gia đình làm đơn vị kinh doanh sản xuất. Thu nhập kinh doanh gia đình có thể chia thành thu nhập từ nông nghiệp, thu nhập lâm nghiệp, thu nhập từ ngành chăn nuôi… (tổng cộng phân thành 10 ngành nghề).
- Thu nhập mang tính tài sản: là thu nhập có được từ những động sản (như tiền gửi ngân hàng, chứng khoán có giá trị…) và bất động sản (như nhà đất, xe cộ…). Nó bao gồm các khoản lợi tức, tiền cho thuê, tiền lãi từ việc nhượng lại quyền sử dụng tài sản; tiền lãi, cổ tức, lợi nhuận có được từ việc kinh doanh tài sản. - Thu nhập mang tính chuyển dịch: chỉ những hàng hoá, dịch vụ, tiền hoặc quyền sở hữu tài sản mà hộ gia đình và thành viên hộ gia đình nông thôn có được mà không cần bỏ ra bất cứ thứ gì tương ứng. Ví dụ như tiền lương hưu, tiền trợ cấp thất nghiệp, các khoản phúc lợi xã hội… - Thu nhập tiền mặt: là thu nhập dưới hình thức tiền mặt của hộ gia định và thành viên của hộ gia đình trong khoảng thời gian được điều tra.
- Thu nhập hiện vật: chỉ tổng sản lượng các loại nông sản mà hộ gia đình nông dân sản xuất ra trong năm đó trừ đi phần đã bán ra, được tính theo giá nhất định. - Thu nhập thuần kinh doanh gia đình: là thu nhập sau khi lấy tổng thu nhập kinh doanh gia đình. Các khái niệm nêu trên được sử dụng nhiều trong chương 3 của Luận văn, đó là những chỉ số phản ánh sự thay đổi mức tăng trưởng thu nhập của nông dân, từ đó tác giả Luận văn sẽ đưa ra những nhận xét và đánh giá về những thay đổi đó. Đặc thù vấn đề thu nhập của nông dân Trung Quốc Vấn đề thu nhập của nông dân Trung Quốc có đặc thù riêng, khác so với phương Tây.
Sở dĩ nói như vậy là do nông dân Trung Quốc là một quần thể có đặc thù khác với khái niệm nông dân của các quốc gia phương Tây. Trong nghiên cứu kinh tế học phương Tây, khái niệm về nông dân là một quần thể xã hội được cấu thành từ nhiều mối quan hệ lợi ích khác nhau, trong đó bao gồm người sở hữu ruộng đất (địa chủ), chủ nông trường, người nông dân làm thuê, người nông dân tự cấy cày trên ruộng đất của mình và người nông dân bán canh (tức là bên cạnh cấy cày trên ruộng đất của mình họ còn đi làm thuê) [40,29]. Nguồn thu nhập chủ yếu của họ vì vậy cũng không giống nhau. Trong đó, nguồn thu nhập chủ yếu của địa chủ là cho thuê ruộng đất, nguồn thu nhập chủ yếu của chủ nông trường đó là lợi nhuận kinh doanh, nguồn thu nhập chủ yếu của người làm thuê nông nghiệp đó là tiền lương, còn nguồn thu nhập của người nông dân tự canh và bán tự canh là tổ hợp của các nguồn thu nhập nói trên.
Chính vì nguồn thu nhập không giống nhau, dẫn đến những nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập cũng không giống nhau. Nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập của địa chủ là giá thành ruộng đất, mức lợi tức tiền vốn ruộng đất, mối quan hệ cung cầu ruộng đất, mức giá thuê ruộng đất trung bình tại địa phương và điều kiện khế ước thuê mướn ruộng đất giữa người sở hữu ruộng đất và chủ nông trường. Nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập của chủ nông trường đó là giá thành chi phí của các yếu tố đầu tư (như tiền thuê mướn ruộng đất, tiền lãi vốn vay, tiền lương thuê lao động và giá cả các yếu tố đầu tư khác), sức sản xuất ruộng đất, hiệu quả của các yếu tố đầu tư, giá cả nông sản và kết cấu cạnh tranh thị trường v.v… Những nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập của người lao động nông nghiệp bao gồm giá thành sức lao động, mối quan hệ cung cầu sức lao động, mức tiền lương bình quân và điều kiện khế ước thuê mướn lao động. Ngoài ra những nhân tố 12 z như chính sách thuế, chính sách trợ cấp, chính sách về lãi suất ngân hàng đều là những nhân tố kinh tế vĩ mô ảnh hưởng đến thu nhập của các nhóm nông dân khác nhau.
Trong các nghiên cứu về nông dân ở phương Tây, những người nông dân được nói đến chủ yếu là những chủ nông trường, vì vậy vấn đề thu nhập của nông dân phương Tây được họ quan tâm chủ yếu là vấn đề thu nhập của chủ nông trường. Còn trong số những nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập của chủ nông trường, nhân tố quan trọng nhất đó là giá cả nông sản và quy mô nông trường. Vì thế, trong kinh tế học phương Tây, các thảo luận về các vấn đề có liên quan đến giá cả nông sản và quy mô nông trường được hiểu đồng nghĩa với thảo luận vấn đề có liên quan đến thu nhập của nông dân. Khác với phương Tây, nông dân Trung Quốc không phải chỉ là khái niệm về một nhóm người làm nghề nông nghiệp, mà là khái niệm về một quần thể xã hội đối lập với cư dân thành thị [40,30].
Vì vậy, thu nhập của nông dân Trung Quốc, không chỉ bao gồm thu nhập nông nghiệp, mà còn bao gồm cả thu nhập phi nông nghiệp. Do đó khác với phương Tây, một trong những con đường cơ bản để tăng thu nhập cho nông dân, bên cạnh việc tăng nguồn thu nhập từ kinh doanh, sản xuất nông nghiệp, Trung Quốc cũng tìm mọi cách để tăng nguồn thu nhập từ các ngành nghề phi nông nghiệp. Ngoài ra, nông dân Trung Quốc không có ranh giới giữa người có sở hữu ruộng đất, chủ nông trường và người làm công nông nghiệp. Ở Trung Quốc, quyền sở hữu ruộng đất được qui về sở hữu thập thể, nông dân chỉ có quyền kinh doanh thuê khoán ruộng đất.
Đồng thời, đại đa số nông dân Trung Quốc, vừa là người kinh doanh thuê khoán ruộng đất, lại vừa là người lao động cày cấy nông nghiệp.