CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ DỊCH VỤ PHI TÍN DỤNG 1.1 Tổng quan về ngân hàng thương mại 1.1 Khái niệm ngân hàng thương mại Khoảng 3.500 năm trước công nguyên, cư dân trên thế giới đã biết gởi tiền, các đồ vật quý cho địa chủ, lãnh chúa, nhà thờ, … để phòng xảy ra mất mát khi các định chế nhà nước, pháp luật chưa rõ ràng, trộm cắp xảy ra khắp nơi. Đến kỳ hạn, họ lấy tài sản ra và trả công cho việc cất giữ. Đó là hình thái sơ khai của ngân hàng. Sau đó, vào khoảng 2.000 năm trước công nguyên, những người “giữ tiền” này đã nghiễm nhiên trở thành chủ ngân hàng khi có hai phát kiến quan trọng xảy ra: - Xuất hiện hình thức thanh toán chứng thư xác nhận tiền có gởi ở ngân hàng.
- Chủ ngân hàng có thể đem tiền gửi cho thương nhân vay và lấy lời. Khoản tiền lời này chia cho những người gởi tiền và chủ ngân hàng. Và cứ thế ngân hàng được hình thành đến hôm nay. Cùng với sự phát triển của nền sản xuất hàng hóa, ngân hàng thương mại (NHTM) đã hình thành.
Đầu tiên, NHTM là trung gian tài chính chiếm vị trí quan trọng trong nền kinh tế. NHTM đảm nhận việc luân chuyển vốn giữa người cho vay và người đi vay theo phương thức gián tiếp. Sự tồn tại về mặt số lượng và chất lượng của NHTM đã khẳng định tốc độ phát triển của nền kinh tế trong một quốc gia. Tại Việt Nam, có khá nhiều định nghĩa về NHTM và hoạt động NHTM như: NHTM là một tổ chức kinh doanh tiền tệ mà nhiệm vụ thường xuyên và chủ yếu là nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, chiết khấu và làm phương tiện thanh toán (Pháp lệnh Ngân hàng năm 1990).
NHTM là ngân hàng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan vì mục tiêu lợi nhuận, góp phần thực hiện các TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com -2- mục tiêu kinh tế của Nhà nước (Khoản 2 Điều 1, Nghị định chính phủ số 49/2000/NĐ-CP ngày 12/09/2000). Mặc dù có nhiều cách nhìn khác nhau, nhưng tựu trung lại NHTM là cầu nối giữa người gởi tiền và người đi vay cũng như phục vụ cho mọi nhu cầu vốn xuất hiện trong xã hội. Như vậy, có thể định nghĩa một cách khái quát như sau: NHTM là loại hình doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ với các hoạt động chủ yếu là huy động vốn, cho vay, đầu tư và các hoạt động dịch vụ khác nhằm tối đa hóa lợi nhuận.2 Chức năng của ngân hàng thương mại NHTM thực hiện hai chức năng cơ bản: trung gian tín dụng; trung gian thanh toán và cung ứng các dịch vụ ngân hàng. - Trung gian tín dụng: Đây là chức năng quan trọng và cơ bản nhất của NHTM vì góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển.
NHTM với vai trò trung gian huy động các nguồn vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế chuyển thành các khoản tín dụng cho các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế – xã hội, cá nhân, … đầu tư thúc đẩy quá trình tái sản xuất phát triển. Trong quá trình cấp tín dụng, ngân hàng thẩm định lại thông tin để hạn chế tình trạng “thông tin bất cân xứng” giữa các khách hàng. Điều này làm tăng hiệu quả thị trường, tạo khả năng sinh lợi cho ngân hàng – nơi có trình độ chuyên môn cao và kinh nghiệm đánh giá các dự án đầu tư. Khi thực hiện nghiệp vụ cấp tín dụng và thanh toán trong hệ thống ngân hàng, các NHTM có khả năng tạo ra một lượng tiền mới gọi là bút tệ góp phần phục vụ cho nhu cầu chu chuyển và phát triển của nền kinh tế.
- Trung gian thanh toán – cung ứng các dịch vụ ngân hàng Thay mặt khách hàng, NHTM đứng ra thực hiện các khoản giao dịch thanh toán giữa các khách hàng, hoàn tất các quan hệ kinh tế thương mại thông qua việc cung cấp thêm các dịch vụ khác hỗ trợ cho hoạt động kinh doanh chủ yếu của mình và góp phần gia tăng đáng kể nguồn thu cho ngân hàng mà không chịu sự tác động của chính sách tiền tệ, chính sách tỷ giá, lãi suất,. Để việc thanh toán diễn ra nhanh chóng, thuận lợi, an toàn, tiết kiệm chi phí, NHTM cung cấp cho khách hàng nhiều TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com -3- hình thức thanh toán như: ủy nhiệm chi, ủy nhiệm thu, séc, thẻ thanh toán, … Khi các NHTM thực hiện tốt chức năng này sẽ làm giảm khối lượng tiền mặt lưu hành, giảm chi phí in tiền, vận chuyển, bảo quản, … góp phần đẩy nhanh tốc độ luân chuyển tiền – hàng, thúc đẩy kinh tế xã hội phát triển.2 Các loại hình dịch vụ ngân hàng thương mại 1.1 Khái niệm dịch vụ ngân hàng Dịch vụ ngân hàng là một loại hình cơ bản trong số các loại hình dịch vụ tài chính, đây cũng là loại hình dịch vụ xuất hiện sớm nhất. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, các dịch vụ ngân hàng ngày càng phát triển đa dạng về chủng loại và phong phú về hình thức. Tại Việt Nam hiện nay, vẫn chưa có một khái niệm chính thức về dịch vụ ngân hàng.
Có thể hiểu dịch vụ ngân hàng theo nghĩa rộng là tất cả các dịch vụ mà hệ thống ngân hàng có thể cung cấp cho nền kinh tế. Theo Luật Các Tổ chức tín dụng do Quốc hội nước Công hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua năm 1997 và sửa đổi năm 2004, dịch vụ ngân hàng cũng đã được đề cập tới tại khoản 1 và khoản 7 điều 20, nhưng không có định nghĩa và giải thích cụ thể. Theo Luật, toàn bộ “hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng” được bao hàm cả ba nội dung: nhận tiền gửi và sử dụng tiền gửi để cấp tín dụng, cung ứng các dịch vụ thanh toán. WTO đưa ra định nghĩa: “một dịch vụ tài chính là bất kỳ dịch vụ nào có tính chất tài chính được một nhà cung cấp dịch vụ tài chính cung cấp”.
Trong Hiệp định Thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ, cũng nêu lên cách phân loại dịch vụ ngân hàng tương tự như WTO. Nói chung, mặc dù ở Việt Nam, khái niệm dịch vụ ngân hàng chưa được đề cập tới một cách đầy đủ trong Luật các Tổ chức tín dụng nhưng theo thông lệ quốc tế, dịch vụ ngân hàng có thể hiểu là toàn bộ các dịch vụ liên quan đến hoạt động tiền tệ, tín dụng, thanh toán, ngoại hối,. mà hệ thống các ngân hàng cung ứng cho nền kinh tế.2 Đặc điểm của dịch vụ ngân hàng TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com -4- Các loại dịch vụ nói chung và dịch vụ ngân hàng nói riêng đều có những đặc điểm chung là: - Tính vô hình: đây là đặc điểm chủ yếu để phân biệt sản phẩm dịch vụ ngân hàng với các sản phẩm của ngành sản xuất vật chất khác trong nền kinh tế quốc dân. Đặc điềm này làm cho việc đánh giá chất lượng sản phẩm dịch vụ ngân hàng trở nên khó khăn ngay cả khi khách hàng đang sử dụng chúng.
Vì thế, các nhà cung cấp dịch vụ ngân hàng rất chú trọng đến việc củng cố niềm tin đối với khách hàng bằng cách không ngừng nâng cao chất lượng dịch vụ, tăng cường quảng bá hình ảnh, uy tín. - Tính không thể tách biệt hay không chia cắt: là đặc điểm phát sinh do quá trình cung cấp dịch vụ và quá trình sử dụng dịch vụ xảy ra đồng thời. Mặt khác, quá trình cung ứng dịch vụ này được tiến hành theo những qui định nhất định, không có sản phẩm dở dang, dự trữ lưu kho, mà sản phẩm được cung ứng trực tiếp cho người sử dụng khi và chỉ khi khách hàng có nhu cầu và đáp ứng những điều kiện của nhà cung cấp. Đặc tính này sẽ chi phối việc xác định giá cả dịch vụ (lãi, phí) nhằm đảm bảo cả người sử dụng và tổ chức cung ứng dịch vụ cùng tồn tại, cùng có lợi và phát triển bền vững.
- Tính không ổn định và khó xác định: vì một sản phẩm dịch vụ ngân hàng dù lớn hay bé (xét về qui mô) đều không đồng nhất về thời gian, cách thức, điều kiện thực hiện vì vậy rất khó xác định. Chất lượng của mỗi sản phẩm dịch vụ ngân hàng được cấu thành bởi nhiều yếu tố như uy tín của ngân hàng, công nghệ, trình độ nhân viên, khách hàng,. mà đặc biệt quan trọng là uy tín của ngân hàng cung cấp dịch vụ. Những yếu tố này ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng dịch vụ, nhưng lại thường xuyên biến động nên không ổn định, khó xác định chính xác.3 Phân loại dịch vụ phi tín dụng Trong phạm vi nghiên cứu của bài luận văn, người viết chỉ đề cập đến dịch vụ phi tín dụng của NHTM.
Vì thế, các khái niệm “dịch vụ”, “sản phẩm dịch vụ” được nêu sau đây để chỉ các sản phẩm dịch vụ phi tín dụng của ngân hàng thương mại. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.1 Dịch vụ phi tín dụng truyền thống i, Thanh toán trong nước Các giao dịch thương mại, kinh tế, … được kết thúc bằng việc thanh toán. Khách hàng có thể thanh toán bằng tiền mặt hay thanh toán qua ngân hàng. Khách hàng thường sử dụng thanh toán bằng tiền mặt đối với những giao dịch nhỏ lẻ, giá trị giao dịch thấp.
Để an toàn, dễ dàng, nhanh chóng và thuận tiện, khách hàng sẽ chọn thanh toán qua ngân hàng với những giao dịch với giá trị lớn, bị hạn chế về địa lý. Thanh toán qua ngân hàng đem lại những lợi ích sau: - Đẩy nhanh tốc độ luân chuyển hàng hóa. - An toàn cho khách hàng - Tăng nguồn vốn cho ngân hàng để mở rộng đầu tư vào các quá trình tái sản xuất - Giảm tỷ trọng tiền mặt trong lưu thông, tiết kiệm chi phí phát hành giúp kiềm chế lạm phát và tiêu cực xã hội - Tiết kiệm thời gian giao dịch, chi phí lưu thông tiền - Đẩy mạnh khoa học – công nghệ phát triển, tạo điều kiện phát triển sản phẩm dịch vụ ngân hàng. - Khách hàng được hưởng lãi từ số dư tài khoản tại ngân hàng.