CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ NGUỒN VỐN VÀ CÁC CHỈ TIÊU AN TOÀN TÀI CHÍNH TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CHỨNG KHOÁN 1.1 Một số khái niệm 1.1 Nguồn vốn Nguồn vốn: là biểu hiện bằng tiền của các loại tài sản của doanh nghiệp tồn tại dưới các hình thức khác nhau được sử dụng trong hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm thực hiện mục đích của mình (Nguyễn Quang Thu, 2015). Tài chính: là hệ thống các mối quan hệ phân phối dưới hình thức giá trị giữa các chủ thể kinh tế thông qua quá trình thành lập và sử dụng quỹ tiền tệ. Các mối quan hệ tài chính: - Mối quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp với ngân sách Nhà nước: thể hiện qua các khoản thuế mà doanh nghiệp phải nộp vào ngân sách theo luật định hay qua hoạt động cấp phát, hỗ trợ vốn và gốp vốn cổ phần theo nguyên tắc, phương thức nhất định để tiến hành sản xuất kinh doanh và phân chia lợi nhuận. - Mối quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp với thị trường tài chính: thể hiện thông qua việc tài trợ nhu cầu vốn của doanh nghiệp, cụ thể: doanh nghiệp nhận các khoản vay từ hệ thống ngân hàng và sẽ hoàn trả vốn vay, tiền lãi trong thời hạn nhất định, doanh nghiệp gửi vốn nhàn rỗi của mình vào hệ thống ngân hàng để nhận lãi suất, đầu tư chứng khoán… - Mối quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp với các thị trường khác như thị trường hàng hóa, dịch vụ, lao động., trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp phải sử dụng vốn để mua sắm các yếu tố sản xuất như nguyên vật liệu, máy móc thiết bị, trả công lao động, qua đó danh nghiệp xác định nhu cầu thị trường để làm cơ sở hoạch định ngân sách, kế hoạch sản xuất, tiếp thị nhằm thỏa mãn nhu cầu của thị trường.
- Mối quan hệ tài chính trong nội bộ doanh nghiệp: phản ánh quan hệ tài chính giữa các bộ phận sản xuất kinh doanh, bộ phận quản lý, giữa các thành viên LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 trong doanh nghiệp, giữa quyền sở hữu vốn và quyền sử dụng vốn. Suy rộng ra, nguồn vốn đảm bảo an toàn tài chính là đảm bảo các tài sản thể hiện hiện bằng tiền của doanh nghiệp đáp ứng các mối quan hệ tài chính phát sinh trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh (Sử Đình Thành, 2008).2 Thị trường tài chính Trong nền kinh tế, nhu cầu về vốn đầu tư và các nguồn tiết kiệm có thể phát sinh từ nhiều nguồn khác nhau, những cá nhân hay tổ chức có cơ hội đầu tư kiếm lời thì thiếu vốn, ngược lại thì có những cá nhân hay tổ chức không tìm thấy cơ hội kinh doanh, dòng vốn của họ bất động, không có khả năng sinh lời thêm. Thực tế đó đã hình thành nên cơ chế chuyển đổi từ tiết kiệm sang đầu tư và được thực hiện trong khuôn khổ của thị trường tài chính. Những người có nhu cầu vốn huy động bằng cách phát hành các công cụ tài chính, còn những người có vốn nhàn rỗi có thể đầu tư vào các công cụ tài chính được phát hành bởi những người huy động vốn.
Như vậy, thị trường tài chính là nơi diễn ra sự luân chuyển vốn từ những người có vốn nhàn rỗi tới những người thiếu vốn hay là nơi mua bán, trao đổi các công cụ tài chính. Hoạt động trên thị trường tài chính ảnh hưởng trực tiếp đến sự giàu có của cá nhân, hành vi của doanh nghiệp, người tiêu dùng và tới động thái chung của toàn bộ nền kinh tế. Cấu trúc của thị trường tài chính, tùy theo các tiêu thức mà cấu trúc thị trường tài chính được phân loại theo nhiều cách khác nhau, như căn cứ theo thời gian luân chuyển vốn thì có thị trường tiền tệ và thị trường vốn, căn cứ theo cách thức huy động vốn có thị trường nợ và thị trường vốn cổ phần, căn cứ vào tính chất của việc phát hành các công cụ tài chính có thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp (Đào Lê Minh, 2009).3 Chứng khoán và thị trường chứng khoán Chứng khoán: là bằng chứng xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với tài sản hoặc phần vốn của tổ chức phát hành, được thể hiện dưới hình thức chứng chỉ, bút toán ghi sổ hoặc dữ liệu điện tử, bao gồm: cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ đầu tư, các công cụ chuyển đổi và các công cụ phái sinh. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 Thị trường chứng khoán: là nơi diễn ra hoạt động giao dịch mua bán các loại chứng khoán trung và dài hạn, việc mua bán này được tiến hành trên thị trường sơ cấp và thứ cấp.
Nếu xét về mặt hình thức thì TTCK là nơi diễn ra các hoạt động trao đổi, mua bán, chuyển nhượng các loại chứng khoán, qua đó thay đổi chủ thể nắm giữ chứng khoán. Nhưng về mặt bản chất, TTCK là nơi tập trung và phân phối các nguồn vốn tiết kiệm cho những ai muốn sử dụng vốn theo giá mà người sử dụng sẵn sàng trả và theo phán đoán về khả năng sinh lời từ các dự án của người sử dụng. Ngoài ra, TTCK còn là định chế tài chính trực tiếp thể hiện ở chỗ cả chủ thể cung và cầu vốn điều tham gia trực tiếp vào thị trường. Chủ thể đã có vốn sẽ đầu tư vào sản xuất kinh doanh mà không cần thông qua các trung gian tài chính, vốn sẽ được chuyển từ người có vốn sang người cần vốn theo nguyên tắc đầu tư, làm cho quyền sở hữu và quyền sử dụng vốn không tách rời, nâng cao tiềm năng quản lý vốn.
Bên cạnh đó, người nắm giữ chứng khoán có thể đạt lợi nhuận sau một thời gian nắm giữ và được giao dịch theo giá cả thị trường. Chức năng của thị trường chứng khoán: - Huy động vốn đầu tư cho nền kinh tế: khi nhà đầu tư mua chứng khoán do công ty phát hành, số tiền nhàn rỗi được đưa vào hoạt động sản xuất kinh doanh, qua đó góp phần mở rộng sản xuất xã hội. Bằng cách hỗ trợ các hoạt động đầu tư của công ty, TTCK có những tác động quan trọng đối với sự phát triển của nền kinh tế, thông qua TTCK, Chính phủ và chính quyền địa phương huy động được nguồn vốn cho mục đích đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế, phục vụ nhu cầu chung của xã hội. - Cung cấp cho công chúng môi trường đầu tư lành mạnh với nhiều cơ hội lựa chọn danh mục dưới sự giám sát, quản lý của cơ quan chức năng.
Các loại chứng khoán trên thị trường rất khác nhau về tính chất, thời hạn, độ rủi ro, cho phép nhà đầu tư có thể lựa chọn loại hàng hóa phù hợp với khả năng, mục tiêu và sở thích của mình; chính vì thế, TTCK góp phần đáng kể làm tăng mức tiết kiệm quốc gia. - Tạo tính thanh khoản cho các chứng khoán: nhờ có TTCK nhà đầu tư có thể chuyển đổi chứng khoán sở hữu thành tiền mặt hoặc các loại chứng khoán khác LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 khi họ muốn. Khả năng thanh khoản là một trong những đặc tính hấp dẫn của chứng khoán đối với nhà đầu tư, TTCK hoạt động càng năng động và có hiệu quả thì càng nâng cao tính thanh khoản của các chứng khoán giao dịch trên thị trường. - Đánh giá hoạt động của doanh nghiệp: thông qua giá chứng khoán, hoạt động của các doanh nghiệp được phản ánh một cách tổng hợp và chính xác, báo cáo tài chính được kiểm toán và công bố định kỳ dưới sự giám sát của UBCKNN giúp cho việc đánh giá, so sánh hoạt động giữa các doanh nghiệp nhanh chóng và thuận tiện, từ đó tạo ra môi trường cạnh tranh lành mạnh nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, đầu tư công nghệ và cải tiến sản phẩm.
- Tạo môi trường giúp Chính phủ thực hiện các chính sách kinh tế vĩ mô: các chỉ báo của TTCK phản ánh động thái của nền kinh tế một cách nhạy bén và chính xác, giá chứng khoán lên cho thấy nền kinh tế đang tăng trưởng và ngược lại, vì thế TTCK được ví như phong vũ biểu của nền kinh tế và là một công cụ quan trọng giúp Chính phủ thực hiện chính sách kinh tế vĩ mô, mua bán trái phiếu Chính phủ để tạo nguồn thu bù đắp thâm hụt ngân sách, quản lý lạm phát hay sử dụng một số chính sách, biện pháp tác động vào TTCK nhằm định hướng đầu tư đảm bảo cho sự phát triển cần đối của nền kinh tế (Đào Lê Minh, 2009).2 Các kênh tăng nguồn vốn hoạt động của công ty chứng khoán Huy động từ chủ sở hữu, cổ đông Có nhiều loại hình doanh nghiệp hoạt động trên thị trường hiện nay như TNHH, cổ phần, 100% vốn nước ngoài. Công ty cổ phần có nhiều lợi thế khi huy động vốn như cần tăng nhiều vốn, thời gian ngắn, dễ dàng thoái vốn khi cần, ngược lại hình thức công ty TNHH có nhiều bất lợi nhất, yêu cầu số vốn lớn ở một vài cá nhân thì khó có thể huy động được nhất thời. Trong số các giải pháp tăng vốn thì lựa chọn ưu tiên có thể đề cập là tăng vốn từ chủ công ty bao gồm chủ sở hữu công ty TNHH, các cổ đông đối với công ty cổ phần. Giải pháp này giúp công ty tránh được áp lực trả nợ và lãi trong thời hạn nhất định, các ông chủ này sẽ cùng chịu trách nhiệm với kết quả hoạt động của công LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 ty nhưng sẽ làm lợi ích của mỗi cổ đông giảm xuống, phản ánh chỉ số thu nhập trên mỗi cổ phần (EPS) và cổ tức trên mỗi cổ phần giảm.
Vốn vay Phương thức vay vốn hiện nay được các CTCK sử dụng và cân đối đảm bảo lợi ích của cổ đông là vay tín dụng và phát hành trái phiếu, trong đó phát hành trái phiếu bao gồm trái phiếu chuyển đổi và trái phiếu không chuyển đổi, công ty cổ phần thường sử dụng trái phiếu chuyển đổi để hoán đổi cổ phiếu khi đến hạn, không chịu áp lực thanh toán vốn gốc vào cuối kỳ nhưng làm pha loãng lợi ích cổ đông, riêng công ty TNHH thì buộc phát hành trái phiếu không chuyển đổi, vay ngân hàng, gây áp lực lên ban lãnh đạo quản lý HĐKD hiệu quả sao cho mức sinh lợi phải lớn hơn lãi suất phải trả. Nếu TTCK không thuận lợi, nhu cầu giao dịch cũng như sử dụng sản phẩm hỗ trợ đầu tư thấp thì các CTCK sử dụng vốn vay không hiệu quả do thừa vốn trong khi phải trả lãi định kỳ.