CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TĂNG NGUỒN THU DỊCH VỤ PHI TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Dịch vụ phi tín dụng của Ngân hàng thương mại 1. Khái niệm về dịch vụ phi tín dụng Trong từ điển thuật ngữ ngân hàng của Nhà xuất bản giáo dục Barron, xuất bản lần thứ 5 (Thomas P.Fitch 2009), DVPTD là các DVNH dựa trên lệ phí không liên quan đến việc mở rộng tín dụng mà ngân hàng cung cấp cho các ngân hàng đại lý hoặc các KH. Theo tài liệu dự án “ khảo sát và đánh giá DVPTD ngân hàng Việt Nam” của tổ chức Deloitte Touche Tohmatsu, DVPTD là bất cứ dịch vụ hoặc sản phẩm nào cung cấp bởi ngân hàng hoặc các tổ chức tài chính mà không phải là những dịch vụ tín dụng.
DVPTD là dịch vụ được ngân hàng cung cấp tới KH đáp ứng nhu cầu về tài chính, tiền tệ của KH nhằm trực tiếp hoặc gián tiếp đem lại cho ngân hàng một khoản thu nhập nhất định, không bao gồm dịch vụ tín dụng. Như vậy, các nghiên cứu trên đều hiểu Dịch vụ phi tín dụng là dịch vụ được NH cung cấp tới khách hàng để đáp ứng nhu cầu về tài chính, tiền tệ của khách hàng nhằm trực tiếp hoặc gián tiếp đem lại cho NH một khoản thu nhập bằng các khoản phí đã xác định thu được từ KH, không bao gồm dịch vụ tín dụng. Các loại hình dịch vụ phi tín dụng Dịch vụ thanh toán Dịch vụ thanh toán bao gồm dịch vụ thanh toán trong nước và dịch vụ thanh toán quốc tế. Trong đó, Dịch vụ thanh toán trong nước bao gồm các hình thức dịch vụ sau: Thanh toán bằng Ủy nhiệm chi (UNC): là phương thức thanh toán được ngân hàng thực hiện theo UNC của KH bằng cách trích chuyển tiền trên tài khoản TGTT của KH lập UNC sang tài khoản TGTT của bên thụ hưởng.
10 Thanh toán bằng Ủy nhiệm thu (UNT): là phương thức thanh toán mà KH lập UNT theo mẫu của ngân hàng để ủy nhiệm ngân hàng thu hộ tiền người mua, người nhận cung ứng hàng hóa, dịch vụ trên cơ sở hợp đồng thương mại giữa hai bên. Thanh toán bằng séc: séc là mệnh lệnh thanh toán vô điều kiện của chủ tài khoản lập dưới dạng văn bản yêu cầu tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán chi trả một số tiền nhất định cho người thụ hưởng bằng tiền mặt hoặc chuyển khoản từ tài khoản TGTT của người ký phát séc cho người thụ hưởng trên tờ séc hoặc trả theo lệnh của người thụ hưởng hoặc trả cho người xuất trình. Thanh toán bằng thư tín dụng: là hình thức thanh toán trong nước chủ yếu được thực hiện trong các nghiệp vụ kinh doanh xuất nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ. Thanh toán bằng thẻ thanh toán: Thẻ thanh toán do Ngân hàng phát hành bán cho KH sử dụng để trả tiền hàng hóa, dịch vụ, các khoản thanh toán khác, rút tiền mặt tại các Ngân hàng đại lý thanh toán hay các quầy rút tiền tự động.
Dịch vụ thanh toán quốc tế Thanh toán quốc tế là quá trình thực hiện các khoản thu chi tiền tệ liên quan đến các mối quan hệ kinh tế, thương mại, và các mối quan hệ phi kinh tế khác giữa các tổ chức, công ty, cá nhân các nước thông qua hoạt động hệ thống ngân hàng có quan hệ đại lý trên toàn thế giới. Trong thanh toán quốc tế hiện nay, thường sử dụng các phương thức thanh toán như: Phương thức thanh toán chuyển tiền:là phương thức thanh toán đơn giản nhất, trong đó một KH (người mua, người trả tiền, người nhập khẩu…) yêu cầu ngân hàng phục vụ chuyển một số tiền nhất định cho người thụ hưởng (người bán, người xuất khẩu, ngươi nhận tiền) ở một địa điểm xác định trong một thời gian nhất định. Phương thức thanh toán nhờ thu: là phương thức thanh toán trong đó công ty xuất khẩu sau khi hoàn thành nghĩa vụ giao hàng hoặc cung ứng dịch vụ sẽ tiến hành ủy thác cho ngân hàng phục vụ mình, thu hộ tiền từ công ty nhập khẩu dựa trên cơ sở hối 11 phiếu và bộ chứng từ xuất khẩu xuất trình đầy đủ chứng từ theo thỏa thuận. Phương thức thanh toán nhận chứng từ: là phương thức mà nhà nhập khẩu sẽ ký với ngân hàng một bản ghi nhớ gồm 2 phần: (1) mở một tài khoản tín chấp mang tên nhà nhập khẩu cho nhà xuất khẩu hưởng lợi, (2) yêu cầu về bộ chứng từ thanh toán mà nhà xuất khẩu phải xuất trình cho ngân hàng.
Nhà nhập khẩu sẽ chuyển tiền vào tài khoản tín chấp. Sau khi nhận được thông báo từ ngân hàng, nhà xuất khẩu sẽ tiến hành giao hàng và thành lập bộ chứng từ thanh toán và thanh toán nếu bộ chứng từ hợp lệ. Phương thức thư tín dụng: là một sự thỏa thuận, trong đó một ngân hàng theo yêu cầu của KH sẽ trả một số tiền nhất định, cho một người thứ ba hoặc chấp nhận hối phiếu do người thứ ba ký phát trong phạm vi số tiền đó, khi người thứ ba xuất trình cho Ngân hàng bộ chứng từ thanh toán phù hợp với những quy định đã đề ra trong thư tín dụng. Phương thức ghi sổ: Người xuất khẩu mở tài khoản để ghi nợ người nhập khẩu yêu cầu người nhập khẩu trả tiền cho người xuất khẩu vào thời điểm xác định trong tương lai.
Dịch vụ kinh doanh ngoại hối Dịch vụ kinh doanh ngoại hối bao gồm dịch vụ kinh doanh ngoại tệ và vàng. Dịch vụ kinh doanh ngoại tệ được các ngân hàng cung cấp với nhiều phương thức giao dịch khác nhau như: giao ngay, hoán đổi, kỳ hạn, quyền chọn, giao sau. Dịch vụ kinh doanh vàng tại các ngân hàng thương mại bao gồm các dịch vụ kinh doanh vàng miếng, kinh doanh vàng tài khoản và kinh doanh quyền chọn vàng. Đồng thời, các dịch vụ đi kèm với kinh doanh vàng cũng rất được ưa chuộng và thông qua việc triển khai các dịch vụ này ngân hàng thu được khoản phí để bổ sung cho nguồn thu phi tín dụng.
Các dịch vụ này bao gồm dịch vụ giữ hộ vàng, dịch vụ ngân quỹ vàng, dịch vụ thanh toán vàng, dịch vụ chuyển ngân vàng,… Dịch vụ thẻ 12 Thanh toán bằng thẻ: thẻ thanh toán là phương tiện thanh toán do các ngân hàng phát hành. Chủ thẻ sử dụng thẻ để thực hiện việc thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ, hoặc nộp, rút tiền mặt, chuyển khoản tại các máy, các quầy tự động của ngân hàng. Các NHTM ngày nay đang cung cấp cho KH hai loại thẻ phổ biến nhất là thẻ ghi nợ và thẻ tín dụng. Thẻ ghi nợ: là loại thẻ gắn liền với tài khoản tiền gửi thanh toán của KH.
KH có thể sử dụng thẻ để rút tiền mặt; thanh toán, chi trả tiền mua hàng hóa, dịch vụ ở bất kỳ điểm bán hàng nào có đặt máy đọc thẻ của NHTM. Khi KH sử dụng loại thẻ này để thanh toán thì giá trị giao dịch được khấu trừ ngay vào tài khoản của KH Thẻ tín dụng: là loại thẻ được sử dụng phổ biến, NHTM cho phép chủ thẻ không cần có số dư trên tài khoản và được sử dụng một hạn mức tín dụng nhất định. Đây là loại thẻ “ tiêu tiền trước, trả tiền sau”, người sử dụng thẻ được tổ chức phát hành thẻ ứng tiền trước để tiêu dùng và chỉ phải thanh toán toàn bộ, hoặc một phần vào cuối mỗi kỳ thanh toán. DVNH điện tử DVNH điện tử được giải thích như là dịch vụ cho phép KH có thể truy cập từ xa vào một ngân hàng nhằm: thu thập thông tin, thực hiện các giao dịch thanh toán, tài chính dựa trên tài khoản mở tại ngân hàng và đăng ký sử dụng dịch vụ mới.
Hiện nay, có hai kênh phân phối DVNH điện tử chủ yếu là Internet và điện thoại Kênh phân phối DVNH điện tử qua điện thoại có thể thực hiện với dịch vụ: Call centre, Smart banking, SMS banking, Mobile banking. Kênh phân phối dịch vụ điện tử Internet là kênh cho phép KH được đặt lệnh yêu cầu NH phục vụ mình thực hiện việc chuyển tiền, thanh toán hoặc kiểm soát hoạt động của tài khoản cá nhân, tổ chức thông qua mạng Internet. Dịch vụ ngân quỹ Dịch vụ ngân quỹ là những dịch vụ do NHTM cung ứng nhằm đáp ứng nhu cầu 13 quản lý ngân quỹ, kiểm soát dòng tiền, hoạt động thu chi của KH một cách an toàn và hiệu quả. Những dịch vụ này giúp KH tiết kiệm được thời gian và chi phí, giảm thiểu rủi ro trong việc vận chuyển, kiểm đếm, cất giữ tiền mặt, tăng hiệu quả trong quản lý tiền mặt.
Khi sử dụng các DV ngân quỹ thì KH phải trả một khoản phí cho NH nhờ đó giúp NH tăng nguồn thu nhập từ phí, tăng cơ hội bán chéo các sản phẩm khác cho KH. Các một kênh phân phối. Mô hình này bắt nguồn từ Pháp và đã trở thành một mô hình phổ biến ở các nước Châu Âu và nhiều nước trên thế giới. Bancassurance đem lại nhiều lợi ích cho các NH , các công ty bảo hiểm và cả KH.
Bancassurance giúp NH có thêm DV mới cung cấp cho KH, làm đa dạng hóa DV của mình và trở thành một “siêu thị tài chính”. Nguồn thu Dịch vụ phi tín dụng 1. Khái niệm Bản thân DVPTD trước đây không mang lại nhiều thu nhập cho NH, tỷ trọng thu từ DVPTD chiếm tỷ lệ nhỏ trên tổng thu nhập của NH. Vậy nguồn thu từ DVPTD là gì.
Nguồn thu DVPTD là tất cả các nguồn thu đem lại thu nhập cho NHTM ngoài thu nhập từ lãi TD, thể hiện thông qua các khoản thu từ DV thanh toán, DV ngân quỹ, DV thẻ, DV NH điện tử…. Đây là nguồn thu có tính ổn định của ngân hàng, rủi ro thấp, đồng thời đi cùng với nó là sự phát triển DVNH, nhằm làm thỏa mãn nhu cầu ngày càng tăng của KH. Nguồn thu DVPTD có những đặc điểm như sau: - Tính an toàn: DVPTD được xếp vào những lĩnh vực kinh doanh tương đối an toàn, rủi ro thấp giúp NH hạn chế được những rủi ro về lãi suất hay rủi ro tín dụng. NH không cần bỏ quá nhiều vốn như DVTD, cũng không chịu áp lực về khả năng trả nợ của KH.
- Tính đa dạng, phong phú: DVPTD đa dạng, không ngừng phát triển trên nền tảng công nghệ mới, đem lợi nhiều tiện ích cho KH. Thu từ DVPTD bao gồm: thu từ DV thẻ, thu từ DV quản lý tiền mặt, thu từ DV thanh toán, … - Khả năng mang lại LN cao: DVPTD có khả năng mang lại LN cao vì chi phí giao dịch mà NH phải bỏ ra thường rất thấp, chủ yếu tận dụng vào cơ sở hạ tầng công 14 nghệ đã được đầu tư trước đó.