Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về tín dụng đối với hộ nghèo của Ngân hàng Chính sách xã hội. - Chương 2: Thực trạng hoạt động tín dụng và hiệu quả tín dụng đối với hộ nghèo tại Ngân hàng Chính sách xã hội - Chi nhánh tỉnh Hưng Yên. - Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả tín dụng đối với hộ nghèo tại Ngân hàng Chính sách xã hội - Chi nhánh tỉnh Hưng Yên. 6 CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TÍN DỤNG ĐỐI VỚI HỘ NGHÈO CỦA NGÂN HÀNG CHÍNH SÁCH XÃ HỘI 1.
TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG CHÍNH SÁCH XÃ HỘI 1. Quá trình hình th nh Ngân h ng Chính sách xã hội Trong xu thế toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế đang được đẩy nhanh, nền kinh tế thị trường ngày càng phát triển mở ra triển vọng cho nền kinh tế Việt Nam tiếp tục phát triển. Bên cạnh vận hội đó, Việt Nam còn phải đương đầu với nhiều thách thức lớn. Một trong những thách thức đó chính là vấn đề đói nghèo và sự phân hoá giàu nghèo đang diễn ra ngày một sâu sắc, khoảng cách giàu nghèo ngày càng rộng.
Trong khi đó, xu thế phát triển bền vững là xu thế chủ đạo của nền kinh tế thế giới trong giai đoạn tới. Vì vậy, một yêu cầu đặt ra đối với hầu hết các nước trong thời kỳ hội nhập hiện nay là đi đôi với phát triển kinh tế - xã hội phải thực hiện các chính sách xoá đói giảm nghèo (XĐGN) nhằm phát triển bền vững. Ngày 31/8/1995, Chính phủ có Quyết định số 525-TTg về việc cho phép thành lập Ngân hàng phục vụ người nghèo. Trong đó ban hành chính sách tín dụng cho người nghèo nhưng giao cho Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam tổ chức điều hành và thực hiện giải ngân (tức là không có bộ máy riêng của Ngân hàng phục vụ người nghèo, giao cho Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam thực hiện).
Sau 7 năm hoạt động, mô hình giao cho Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam thực hiện kênh tín dụng cho người nghèo còn có nhiều bất cập cần thiết phải tách tín dụng chính sách ra khỏi tín dụng thương mại. Ngày 04/10/2002, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 78/2002/NĐ-CP về tín dụng đối với người nghèo và các đối tượng chính sách khác. Đồng thời, Thủ tướng 7 Chính phủ ký Quyết định số 131/2002/QĐ-TTg ngày 04/10/2002 thành lập Ngân hàng Chính sách xã hội Việt Nam trên cơ sở tổ chức lại Ngân hàng Phục vụ người nghèo được thành lập theo Quyết định số 230/QĐ-NH5, ngày 01 tháng 09 năm 1995 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước tách ra khỏi Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam. NHCSXH ra đời đã huy động được sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và của cả xã hội tham gia vào thực hiện chương trình XĐGN.
Việc ra đời của NHCSXH đã tạo cơ hội cho người nghèo và các đối tượng chính sách khác tiếp cận với dịch vụ tín dụng Nhà nước; đồng thời khẳng định chủ trương tập trung các nguồn vốn tín dụng có nguồn gốc từ Ngân sách Nhà nước (NSNN) vào một đầu mối, tách tín dụng ưu đãi ra khỏi hệ thống Ngân hàng thương mại (NHTM) là phù hợp với tiến trình đổi mới và hội nhập quốc tế. Chức năng, nhiệm vụ v vai trò của Ngân h ng Chính sách xã hội 1. Chức năng, nhiệm vụ của Ngân hàng Chính sách xã hội NHCSXH ra đời với mục đích tách hoạt động tín dụng chính sách ra khỏi các NHTM; đồng thời thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia xóa đói giảm nghèo ổn định xã hội, thực hiện tín dụng ưu đãi đối với người nghèo và các đối tượng chính sách khác, hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận. Nhiệm vụ cụ thể: - Huy động vốn: tổ chức huy động vốn trong và ngoài nước có trả lãi của các tổ chức và tầng lớp dân cư bao gồm tiền gửi có kì hạn, không kì hạn, huy động tiết kiệm cho người nghèo.
+ Nhận tiền gửi có trả lãi của các cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước theo kế hoạch được phê duyệt hàng năm. + Các tổ chức tín dụng nhà nước có trách nhiệm duy trì số dư tiền gửi tại NHCSXH bằng 2% số dư nguồn vốn huy động bằng Đồng Việt Nam tại thời điểm 31/12 năm trước. Việc thay đổi tỉ lệ duy trì số dư tiền gửi do Thủ tướng 8 quyết định. Tiền gửi của tổ chức tín dụng (TCTD) Nhà nước tại Ngân hàng được trả lãi suất bằng lãi suất tính trên cơ sở bình quân lãi suất huy động các nguồn vốn hàng năm của TCTD kèm phí huy động hợp lí do hai bên thỏa thuận.
+ Tiền gửi tự nguyện không lấy lãi của các tổ chức cá nhân trong và ngoài nước. + Huy động tiết kiệm trong các hộ nghèo. - Đi vay + Phát hành trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh, chứng chỉ tiền gửi và giấy tờ có giá khác. + Vay các TCTD trong và ngoài nước.
+ Vay tiết kiệm bưu điện. + Vay Ngân hàng Nhà nước (NHNN). - Nhận vốn đóng góp tự nguyện: được nhận các nguồn vốn đóng góp tự nguyện không có lãi hoặc không hoàn trả gốc của các cá nhân, các tổ chức kinh tế, tổ chức tài chính tín dụng và các tổ chức chính trị - xã hội, các hiệp hội, các tổ chức phi Chính phủ trong và ngoài nước. - Nhận làm dịch vụ ủy thác cho vay ưu đãi của chính quyền địa phương, các tổ chức kinh tế, các tổ chức chính trị - xã hội, các hiệp hội, các Hội và tổ chức phi Chính phủ trong và ngoài nước theo hợp đồng ủy thác.
- Các chức năng khác: + Mở tài khoản tiền gửi thanh toán cho tất cả khách hàng trong và ngoài nước. + Tham gia hệ thống liên Ngân hàng trong và ngoài nước. + Thực hiện các dịch vụ Ngân hàng về thanh toán và ngân quỹ như: cung ứng phương tiện thanh toán, thực hiện các dịch vụ thanh toán trong nước, thực hiện các dịch vụ thu hộ, chi hộ bằng tiền mặt và không dùng tiền mặt. + Các dịch vụ theo quy định của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước.
9 - Cho vay ngắn hạn, trung hạn, dài hạn dịch vụ cho sản xuất kinh doanh (SXKD) tạo việc làm, cải thiện đời sống hộ nghèo. Vị trí, vai trò của Ngân hàng Chính sách xã hội NHCSXH là một TCTD chuyên biệt thực hiện cho vay theo các chính sách xã hội của Nhà nước. Vì vậy, nó đóng một vai trò quan trọng trong nền kinh tế, xã hội: * Thứ nhất: góp phần XĐGN thực hiện an sinh xã hội. Phát triển kinh tế - xã hội là mục tiêu chiến lược và tối cao của mọi quốc gia.
Sự phát triển không mang tính thời điểm mà đòi hỏi có sự bền vững lâu dài. Nếu mang tính thời điểm thì đó chỉ là sự tăng trưởng, mới chỉ là bước đầu của sự phát triển. Nếu không duy trì được sự bền vững lâu dài thì kết cấu xã hội bị phá vỡ, tăng trưởng bị hạn chế và kéo theo đó là sự thụt lùi, tụt hậu. Giảm tỷ lệ nghèo đói, trong khi dân số thế giới không ngừng tăng lên là một thách thức to lớn.
Tăng trưởng kinh tế gắn liền với công bằng xã hội; sự phân hoá giàu nghèo được xoá bỏ, … sẽ đảm bảo cho một sự phát triển bền vững. Để có được sự phát triển bền vững; đòi hỏi Chính phủ các nước phải thực thi các chính sách xã hội, tạo điều kiện cho người nghèo thoát cảnh nghèo đói; đó cũng là mục tiêu đảm bảo xã hội phát triển bền vững. Giúp người nghèo có nhiều cách; trong đó “vốn” là điều kiện tiên quyết, là động lực đầu tiên giúp người nghèo có điều kiện vượt qua khó khăn để thoát khỏi đói nghèo. Khi có vốn trong tay, với bản chất cần cù của người nông dân, bằng sức lao động của bản thân và gia đình họ có điều kiện mua sắm vật tư, cây, con giống, … để tổ chức sản xuất, thực hiện thâm canh tạo ra năng suất và sản phẩm hàng hoá cao hơn, tăng thu nhập cải thiện được đời sống.
Như vậy, giúp đỡ người nghèo và đối tượng chính sách là một yêu cầu tất yếu khách quan của phát triển nền kinh tế - xã hội. Nhưng giúp bằng cách nào, qua kênh phân phối nào, với mô hình ra sao là cả một vấn đề. 10 Với những vai trò và ý nghĩa đó, tín dụng cho người nghèo và đối tượng chính sách thông qua một mô hình thích hợp cần được quan tâm và mở rộng hơn nữa nhằm tăng cường năng lực chung cho sự phát triển bền vững của nền kinh tế - xã hội; đó chính là NHCSXH. Tại Việt Nam, để thực hiện những mục tiêu kinh tế - xã hội của mình, Chính phủ đã thành lập NHCSXH.
Đó là một TCTD chuyên biệt, thực hiện cho vay theo các chính sách xã hội của Nhà nước. Vì vậy nó đóng một vai trò quan trọng trong nền kinh tế - xã hội. Trong điều kiện nền kinh tế thị trường ngày càng phát triển thì khoảng cách giàu nghèo càng lớn. Do đó, mỗi quốc gia cần phải có chính sách hợp lý để quan tâm và bảo đảm cho vấn đề con người, an sinh xã hội cho người nghèo, vùng nghèo,.
đó là vấn đề sống còn của chế độ, công bằng và tiến bộ xã hội. Là công cụ để Nhà nước thực hiện các chương trình tín dụng chính sách với mục đích hướng sự giúp đỡ đến các đối tượng, khu vực trên, NHCSXH đã góp phần thực hiện mục tiêu của Chính phủ vì sự phát triển cân đối của nền kinh tế và vì một xã hội ổn định, dân giàu, nước mạnh, được thể hiện qua việc: - Đối với các đối tượng chính sách: đã tạo ra một kênh tín dụng được sử dụng một cách hiệu quả cho những đối tượng, khu vực chính sách hơn các loại hình cấp phát vốn hỗ trợ khác do: + Việc chuyển tải vốn được thực hiện theo phương thức cho vay có hoàn trả nên nguồn vốn được người sử dụng vốn tính toán hiệu quả; vốn được sử dụng quay vòng nhiều lần, giúp nhiều người được hưởng lợi từ nguồn tín dụng ưu đãi này. Mặt khác, người vay vốn tìm cách sử dụng vốn vào mục đích SXKD, tạo ra thu nhập để cải thiện đời sống và trả được nợ.