chương 1 Tiền gửi tiết kiệm luôn chiếm một tỉ trọng lớn trong tổng nguồn vốn huy động của một NHTM. Nó không chỉ có một vai trò quan trọng đối với hoạt động kinh doanh của NHTM mà còn có ý nghĩa đối với nền kinh tế. Nghiên cứu cơ sở lý thuyết về tiền gửi tiết kiệm và các nhân tố thuộc về ngân hàng có ảnh hưởng đến quyết định gửi tiết kiệm sẽ giúp cho NHTM đưa ra những biện pháp thích hợp nhằm để gia tăng tiền gửi tiết kiệm và nâng cao hiệu quả hoạt động của ngân hàng. 13 CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HUY ĐỘNG TIỀN GỬI TIẾT KIỆM CỦA NGÂN HÀNG TMCP Á CHÂU 2.1 Giới thiệu ngân hàng TMCP Á Châu 2.1 Giới thiệu chung Tên tổ chức : Ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu Tên giao dịch quốc tế : Asia commercial bank Tên viết tắt : ACB Hội sở chính : - Địa chỉ 442 Nguyễn Thị Minh Khai, phường 5, quận 3, TP.HCM - Tel: (848) 3929 0999 - Fax: (848)3839 9885 - Email: acb@acb.vn - Trang web: www.2 Bối cảnh thành lập Ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu đã được thành lập theo Giấy phép số 0032/NH-GP do ngân hàng Nhà nước Việt Nam cấp ngày 24/04/1993, Giấy phép số 553/GP-UB do Ủy ban Nhân dân TP.
Hồ Chí Minh cấp ngày 13/05/1993. Ngày 04/06/1993, ACB chính thức đi vào hoạt động. ACB niêm yết tại Sở giao dịch Chứng khoán Hà Nội (trước đây là Trung tâm Giao dịch Chứng khoán Hà Nội) theo Quyết định số 21/QĐ-TTGDHN ngày 31/10/2006. Cổ phiếu ACB bắt đầu giao dịch vào ngày 21/11/2006.
Tính đến ngày 30/06/2013, vốn điều lệ của ACB là 9.3 Sản phẩm chính Huy động vốn (nhận tiền gửi của khách hàng) bằng đồng Việt Nam, ngoại tệ và vàng. Sử dụng vốn (cung cấp tín dụng, đầu tư, góp vốn liên doanh) bằng đồng Việt Nam, ngoại tệ và vàng. 14 Các dịch vụ trung gian (thực hiện thanh toán trong và ngoài nước, thực hiện dịch vụ ngân quỹ, chuyển tiền kiều hối và chuyển tiền nhanh, bảo hiểm nhân thọ qua ngân hàng) Kinh doanh ngoại tệ và vàng. Phát hành và thanh toán thẻ tín dụng, thẻ ghi nợ.2 Thực trạng hoạt động kinh doanh tại ngân hàng TMCP Á Châu 2.1 Tình hình về nguồn vốn và sử dụng vốn 2.1 Tình hình chung về nguồn vốn Nguồn vốn là cái ban đầu mà bất cứ một tổ chức kinh doanh nào cũng cần phải có để thực hiện những ý đồ mà mình muốn thực hiện.
Đặc biệt trong điều kiện nền kinh tế thị trường thì yếu tố cạnh tranh là một trong những yếu tố hàng đầu không thể thiếu được. Và hoạt động kinh doanh của một ngân hàng cũng không ngoại lệ, để tăng cường năng lực cạnh tranh của mình thì ngân hàng cần có một nguồn vốn ổn định để mở rộng qui mô kinh doanh của mình.1 : Cơ cấu nguồn vốn của ACB giai đoạn 2010 - 2012 Đơn vị tính : triệu đồng So sánh 2011 và Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012 2010 So sánh 2012 và 2011 Tỉ Tỉ Tỉ Chỉ tiêu Số tiền trọng Số tiền trọng Số tiền trọng Số tiền Tỉ lệ Số tiền Tỉ lệ Vốn huy động 135,066,574 0.93 Vốn tài trợ, ủy thác đầu tư, cho vay 379,768 0.05 Tài sản nợ khác 10,594,023 0.36 Vốn điều lệ 9,376,965 0.32 LN chưa PP 790,240 0.54 (Nguồn : Báo cáo NH năm 2012) Qua bảng số liệu trên có thể thấy nguồn vốn của ngân hàng có được không chỉ từ nguồn huy động của cá nhân và tổ chức kinh tế mà còn từ nhiều nguồn khác như là các khoản vay, các tài sản nợ khác,… Nhưng chủ yếu vẫn là nguồn vốn huy động từ các tổ chức và cá nhân. 15 Từ năm 2010 đến năm 2012, tuy vốn huy động của ngân hàng tăng giảm không đều nhưng luôn chiếm một tỉ trọng lớn và có xu hướng tăng trong tổng nguồn vốn từ 63% đến 76%. Điều này cho thấy vốn huy động luôn giữ một vai trò quan trọng trong việc mở rộng đầu tư tín dụng của ngân hàng Năm 2010 qui mô của các khoản vay tại ngân hàng là 57,238,804 triệu đồng chiếm 27%, sang năm 2011 thì khoản vốn vay này giảm xuống còn 18% ứng với số tiền là 47,685,828 triệu đồng.
Và năm 2012 các khoản vay này chỉ còn 24,650,124 triệu đồng chiếm 14%. Qua đây cho thấy ngoài nguồn vốn huy động thì ngân hàng còn cần có nguồn khác nữa để đảm bảo cho khả năng mở rộng nguồn vốn đáp ứng cho hoạt động cho vay của mình. Nhưng các khoản vay ngoài của ngân hàng dần giảm đi chứng tỏ ngân hàng có sự cân đối tốt trong việc huy động và cho vay của mình trong các năm sau này, không còn phải vay nhiều từ bên ngoài.2 Tình hình huy động vốn Bảng 2.2 : Tình hình huy động vốn của ACB giai đoạn 2010 - 2012 Đơn vị tính : triệu đồng Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012 So sánh 2011 và 2010 So sánh 2012 và 2011 Chỉ tiêu Số tiền Tỉ trọng Số tiền Tỉ trọng Số tiền Tỉ trọng Số tiền Tỉ lệ Số tiền Tỉ lệ Tiền gửi thanh toán 14,042,685 0.18 Tiền gửi tiết kiệm 118,518,440 0.24 (Nguồn : Báo cáo NH năm 2012) Qua bảng số liệu trên ta thấy nguồn vốn huy động của ngân hàng tăng giảm không điều trong 3 năm từ 2010 đến 2012, đặc biệt là vốn huy động trong năm 2012 giảm 42,398,649 triệu đồng tương ứng 24% so với năm 2011, điều này được lý giải là vào tháng 8/2012, ngân hàng Á Châu đã xảy sự cố của Chủ tịch hội đồng sáng lập ông Nguyễn Đức Kiên dẫn đến việc rút tiền ồ ạt tại ngân hàng. Nhìn vào tỷ trọng của các loại nguồn vốn huy động ta thấy, nguồn vốn huy động của ngân hàng chủ yếu là tiền gửi tiết kiệm điều này cũng dễ hiểu vì đối với thị trường mới nổi như Việt Nam thì việc thanh toán qua ngân hàng vẫn còn hạn chế, người dân chưa có thói quen thanh toán qua ngân hàng và họ chỉ gửi tiết kiệm tại ngân hàng để có thu nhập ổn định hàng tháng.
Từ năm 2010 đến 2012, tỉ trọng 16 tiền gửi tiết kiệm luôn chiếm trên 80% tổng nguồn vốn huy động của ngân. Tiền gửi tiết kiệm năm 2010 chiếm 88% trong tổng nguồn vốn huy động tương đương 118,518,440 triệu đồng, năm 2011 chiếm 87% trong tổng nguồn vốn huy động tương đương 154,323,358 triệu đồng, năm 2012 chiếm 89% trong tổng nguồn vốn huy động tương đương 120,189,554 triệu đồng. Tiền gửi tiết kiệm trong năm 2012 giảm là nguyên nhân chính dẫn đến tổng nguồn vốn huy động năm 2012 của ngân hàng giảm 24% so với năm 2011 do sự cố tháng 8/2012. Lượng tiền ký quỹ cũng như tiền gửi thanh toán năm 2012 lần lượt giảm 80% và 18% so với năm 2011, tương đương giảm về tuyệt đối là 5,313,183 triệu đồng và 2,951,662 triệu đồng.
Đây là một thực tế khách quan do tình hình kinh tế không thuận lợi, doanh nghiệp hoạt động không hiệu quả,… 2.3 Tình hình về hoạt động tín dụng Hiện nay cùng với công việc huy động vốn, hoạt động tín dụng vẫn là một trong những hoạt động chủ yếu của các NHTM nói chung và ngân hàng Á Châu nói riêng. Vì vậy dựa vào kết quả của hoạt động cấp tín dụng, ta có thể phần nào đánh giá được hoạt động của NH trong thời gian qua.3 : Tình hình hoạt động tín dụng của ACB giai đoạn 2010 - 2012 Đơn vị tính : triệu đồng Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012 So sánh 2011 và 2010 So sánh 2012 và 2011 Tỉ Chỉ tiêu Số tiền Tỉ trọng Số tiền Tỉ trọng Số tiền trọng Số tiền Tỉ lệ Số tiền Tỉ lệ Cho vay ngắn hạn 43,889,956 0.05 Cho vay trung và dài hạn 43,305,149 0.00 (Nguồn : Báo cáo NH năm 2012) Qua bảng số liệu trên ta thấy, tổng dư nợ cho vay của ngân hàng năm 2011 đạt 102,809,156 triệu đồng, tăng về tuyệt đối là 15,614,051 triệu đồng, tương đương tăng 18% so với năm 2010. Tổng dư nợ cho vay của ngân hàng năm 2012 so với năm 2011 không thay đổi nhiều đạt 102,814,848 triệu đồng. Đó có thể coi là một sự thành công của Ngân hàng Á Châu khi vẫn giữ được mức dư nợ như trong năm 2011 khi tình hình kinh tế Việt Nam năm 2012 thật sự gặp nhiều khó khăn do ảnh hưởng của sự khủng hoảng nền kinh tế toàn cầu.
17 Trong cơ cấu dư nợ của ngân hàng Á Châu, dự nợ cho vay ngắn hạn và dư nợ cho vay dài hạn tương đối cân bằng nhau nhưng cho vay ngắn hạn có xu hướng tăng dần trong những năm gần đây. Đó là một trong những chiến lược của ngân hàng là “ Ngân hàng của mọi nhà”, là một ngân hàng bán lẻ, tập trung nhiều hơn đến cho vay tiêu dùng trong gian đoạn nền kinh tế gặp nhiều khó khăn như hiện nay. Trong năm 2010, cho vay ngắn hạn chiếm 50% đạt 43,889,956 triệu đồng, năm 2011 cho vay ngắn hạn chiếm 52% đạt 53,361,314 triệu đồng và năm 2012 chiếm 54% đạt 55,878,105 triệu đồng.4 : Tình hình nợ xấu của ACB giai đoạn 2010 - 2012 Đơn vị tính : triệu đồng Chỉ tiêu Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012 So sánh 2011 và 2010 So sánh 2012 và 2011 Nợ xấu 296,463 904,721 2,529,245 608,257 1,624,525 Tỉ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ 0.7956 (Nguồn : Báo cáo NH 2013) Về nợ xấu : Từ năm 2010 đến năm 2012 nợ xấu của ngân hàng tăng dần. Đặc biệt là trong năm 2012, nợ xấu trên tổng dư nợ của ngân hàng Á Châu là 2.46% tăng 179% so với năm 2011.
Nợ xấu cao như vậy đó là do sự cố 8/2012, ACB đã cho sáu công ty mà ông Nguyễn Đức Kiên là Chủ tịch hoặc là thành viên Hội đồng quản trị vay 3,511,468 triệu đồng. Trong năm qua, tình hình kinh tế thế giới và Việt Nam biến động phức tạp, ảnh hưởng xấu đến hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp cũng như đời sống dân cư. Chính điều này đã làm cho hoạt động thu nợ của ngân hàng gặp nhiều khó khăn, khả năng trả nợ của khách hàng giảm, do đó nợ xấu của ngân hàng gia tăng. Vì vậy trong thời gian tới ngân hàng cần chú trọng hơn nữa đến chất lượng công tác thẩm định cũng như đẩy mạnh các biện pháp thu nợ, mua bán nợ để giảm thiểu dư nợ quá hạn đến mức thấp nhất có thể.2 Tình hình huy động tiền gửi tiết kiệm 2.1 Các hình thức huy động tiền gửi tiết kiệm Hiện nay NH đang huy động tiền gửi tiết kiệm dưới 2 hình thức: có kỳ hạn và không kỳ hạn.
Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn: có nhiều hình thức - Tiền gửi tiết kiệm nhận lãi cuối kỳ. 18 - Tiền gửi tiết kiệm nhận lãi hàng tháng. - Tiền gửi tiết kiệm nhận lãi hàng quý.