Chương 1: Một số lý luận cơ bản về vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI Chương 2: Thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn tỉnh Hải Dương Chương 3: Các đề xuất và kiến nghị với vấn đề nghiên cứu 6 Luan van CHƢƠNG 1: MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ VỐN ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP NƢỚC NGOÀI FDI 1. Khái quát về vốn đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài FDI 1. Khái niệm đầu tƣ và đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài a. Khái niệm đầu tƣ Xuất phát từ phạm vi phát huy tác dụng của các kết quả đầu tƣ, có thể có những cách hiểu khác nhau về đầu tƣ: Trong kinh tế học, đầu tƣ có liên quan đến tiết kiệm và trì hoãn tiêu thụ.
Đầu tƣ có liên quan đến nhiều khu vực của nền kinh tế, chẳng hạn nhƣ quản lý kinh doanh và tài chính dù là cho hộ gia đình, doanh nghiệp, hoặc chính phủ. Cụ thể, trong lý thuyết kinh tế học vĩ mô, đầu tƣ là số tiền mua một đơn vị thời gian của hàng hóa không đƣợc tiêu thụ mà sẽ đƣợc sử dụng cho sản xuất trong tƣơng lai (chẳng hạn: vốn). Ví dụ nhƣ mua trang thiết bị, xây dựng nhà máy,…Đầu tƣ trong vốn con ngƣời bao gồm chi phí học bổ sung hoặc đào tạo trong công việc. Đầu tƣ hàng tồn kho là sự tích tụ của các kho hàng hóa; nó có thể tích cực hay tiêu cực, và nó có thể có dụng ý hoặc không có dụng ý.
Trong tài chính, đầu tƣ là việc mua một tài sản với hy vọng rằng nó sẽ tạo ra thu nhập hoặc đánh giá cao trong tƣơng lai hoặc đƣợc bán với giá cao hơn, thƣờng là trong tƣơng lai dài hạn. Nó thƣờng không bao gồm tiền gửi lại ngân hàng hay tổ chức tƣơng tự. Nói cách khác, đầu tƣ theo nghĩa rộng là sự hy sinh các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các hoạt động nào đó nhằm thu về các kết quả nhất định trong tƣơng lai lớn hơn các nguồn lực đã bỏ ra để đạt đƣợc các kết quả đó. Nhƣ vậy, có thể thấy mục tiêu của mọi công cuộc đầu tƣ là đạt đƣợc các kết quả lớn hơn so với những hy sinh về nguồn lực mà ngƣời đầu tƣ phải gánh chịu khi tiến hành đầu tƣ.
Nguồn lực phải hy sinh đó có thể là tiền, là tài nguyên thiên nhiên, là sức lao động và trí tuệ. Đầu tƣ theo nghĩa hẹp chỉ bao gồm những hoạt động sử dụng các nguồn lực ở hiện tại nhằm đem lại cho nền kinh tế - xã hội những kết quả trong tƣơng lai lớn hơn các nguồn lực đã sử dụng để đạt đƣợc kết quả đó. Nói chung, đầu tƣ là quá trình sử dụng các nguồn lực về tài chính, lao động, tài nguyên thiên nhiên và các tài sản vật chất khác nhằm trực tiếp hoặc gián tiếp tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng các cơ sở vật chất kỹ thuật của nền kinh tế. Những kết quả sẽ đạt 7 Luan van đƣợc có thể là sự tăng thêm các tài sản tài chính (tiền vốn), tài sản vật chất (nhà máy, đƣờng sá, bệnh viện, trƣờng học,…), tài sản trí tuệ (trình độ văn hóa, chuyên môn, quản lý, khoa học kỹ thuật,…) và nguồn nhân lực có đủ điều kiện làm việc với năng suất lao động cao hơn trong nền sản xuất xã hội.Trong những kết quả đó, những kết quả trực tiếp của sự hy sinh các tài sản vật chất, tài sản trí tuệ và nguồn nhân lực tăng thêm có vai trò quan trọng mọi lúc, mọi nơi không chỉ đối với ngƣời bỏ vốn mà cả đối với toàn bộ nền kinh tế, không chỉ ngƣời đầu tƣ mà cả nền kinh tế xã hội đƣợc thụ hƣởng.
Qua các khái niệm trên, có thể rút ra đƣợc rằng hoạt động đầu tƣ sẽ có các đặc điểm sau: Trƣớc hết hoạt động đầu tƣ phải có vốn. Vốn có thể bằng tiền, bằng các loại tài sản khác nhƣ máy móc, thiết bị, nhà xƣởng, công trình xây dựng khác, giá trị quyền sở hữu công nghiệp, bí quyết kỹ thuật, quy trình công nghệ, dịch vụ kỹ thuật, giá trị quyền sử dụng đất, mặt nƣớc, mặt biển, các nguồn tài nguyên khác. Vốn đầu tƣ có thể là vốn Nhà nƣớc, vốn tƣ nhân, góp vốn, vốn cổ phần, vốn vay dài hạn, trung hạn, ngắn hạn. Hai là, hoạt động đầu tƣ thƣờng diễn ra trong thời gian tƣơng đối dài, trong nhiều năm, thƣờng từ 2 năm trở lên, có thể lên đến 50 năm, nhƣng tối đa cũng không quá 70 năm.
Những hoạt động ngắn hạn, thƣờng trong vòng 1 năm tài chính không đƣợc gọi là đầu tƣ. Thời hạn đầu tƣ đƣợc ghi rõ trong Quyết định đầu tƣ hoặc Giấy phép đầu tƣ. Ba là, lợi ích do dự án mang lại đƣợc biểu hiện trên hai mặt: lợi ích tài chính (biểu hiện qua lợi nhuận) và lợi ích kinh tế xã hội (biểu hiện qua các chỉ tiêu kinh tế xã hội). Lợi ích tài chính ảnh hƣởng trực tiếp đến quyền lợi của chủ đầu tƣ, còn lợi ích kinh tế ảnh hƣởng đến quyền lợi của cả cộng đồng.
Dựa vào lợi ích tài chính, nhà đầu tƣ, kể cả trƣờng hợp nhà đầu tƣ là Nhà nƣớc, có thể ra đƣợc quyết định có đầu tƣ hay không. Dựa vào lợi ích kinh tế xã hội, Nhà nƣớc sẽ ra đƣợc quyết định có cấp giấy phép đầu tƣ cho các nhà đầu tƣ không phải là Nhà nƣớc hay không. Khái niệm đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài Trong khoa học pháp lý có khá nhiều cách hiểu về ĐTNN, tùy thuộc vào khía cạnh nhìn nhận khác nhau của quá trình này và chúng đƣợc thể hiện ở cả pháp luật quốc tế và pháp luật của các quốc gia. Cụ thể: 8 Luan van Theo quỹ tiền tệ thế giới (International Moneytary Fund – IMF) định nghĩa: “FDI là đầu tƣ có lợi ích lâu dài của một doanh nghiệp tại một nƣớc khác (nƣớc nhận đầu tƣ – hosting country), không phải tại nƣớc mà doanh nghiệp đang hoạt động (nƣớc đi đầu tƣ – source country) với mục đích quản lý một cách hiệu quả doanh nghiệp”(IMF, 1993).
Trong báo cáo đầu tƣ thế giới năm 1996, ủy ban thƣơng mại và phát triển của Liên hợp quốc (UNCTAD) đã đƣa ra định nghĩa về FDI nhƣ sau: “FDI là đầu tƣ có mối liên hệ, lợi ích và sự kiểm soát lâu dài của một pháp nhân hoặc thể nhân (nhà đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài hoặc công ty mẹ) đối với một doanh nghiệp ở một nền kinh tế khác (doanh nghiệp FDI hoặc chi nhánh nƣớc ngoài hoặc chi nhánh doanh nghiệp)”. Theo Luật ĐTNN tại Việt Nam năm 1996 và trong lần sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tƣ nƣớc ngoài ngày 09/6/2000 quy định tại Khoản 1 Điều 2: “FDI là việc nhà ĐTNN đƣa vào Việt Nam vốn bằng tiền hoặc bất kỳ tài sản nào để tiến hành hoạt động đầu tƣ theo quy định của Luật này”, trong đó nhà ĐTNN đƣợc hiểu là tổ chức kinh tế, cá nhân nƣớc ngoài đầu tƣ vào Việt Nam. Qua các định nghĩa về FDI, có thể hiểu một cách khái quát về FDI là việc nhà đầu tƣ ở một nƣớc khác đƣa vốn bằng tiền hoặc bất kỳ tài sản nào vào quốc gia đó để có đƣợc quyền sở hữu và quản lý hoặc quyền kiểm soát một thực thể kinh tế tại quốc gia đó, với mục tiêu tối đa hóa lợi ích của mình. Theo thông lệ quốc tế, có thể là tài sản hữu hình (máy móc, thiết bị, quy trình công nghệ, bất động sản, các loại hợp đồng và giấy phép có giá trị,…), tài sản vô hình (quyền sở hữu trí tuệ, bí quyết và kinh nghiệm quản lý,…) hoặc tài sản tài chính (cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu, giấy ghi nợ,…).
ĐTNN nhìn từ góc độ pháp lý khác với khái niệm đầu tƣ trong kinh tế. Định nghĩa đầu tƣ trong pháp luật có thể không bao hàm một số loại hình đầu tƣ có trong thực tiễn. Khi đƣa vào văn bản pháp luật ở cấp độ quốc gia hay quốc tế một định nghĩa ĐTNN, các quốc gia xác định loại hình tài sản nƣớc ngoài mà mình muốn thu hút và có thể đƣợc bảo hộ. Bản chất và đặc điểm của đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài a.
Bản chất Trong điều kiện của nền kinh tế hiện đại, vốn đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài là loại vốn có nhiều ƣu điểm hơn so với các loại vốn khác. Nhất là đối với các nƣớc đang phát triển, khi khả năng tổ chức sản xuất đạt hiệu quả còn thấp thì hiệu quả của FDI càng rõ rệt. Về bản 9 Luan van chất, FDI là sự gặp nhau về nhu cầu của hai bên, một bên là nhà đầu tƣ và bên còn lại là quốc gia tiếp nhận đầu tƣ. Đối với nhà đầu tƣ, khi ở một số quốc gia khác xuất hiện nhiều lợi thế mà họ có thể khai thác để thu lợi nhuận cao hơn nơi mà họ đang đầu tƣ, đây chính là yếu tố cơ bản nhất thúc đẩy các nhà đầu tƣ chuyển vốn của mình đầu tƣ vào nƣớc khác.
Hay nói cách khác, việc tìm kiếm, theo đuổi lợi nhuận cao hơn và bảo toàn độc quyền hay lợi thế cạnh tranh là bản chất, là động cơ, là mục tiêu cơ bản xuyên suốt của các nhà đầu tƣ. Khai thác đƣợc nguồn tài nguyên thiên nhiên cũng nhƣ giá nhân công rẻ của nƣớc nhận đầu tƣ,…đây chính là lối thoát giúp cho các nhà đầu tƣ tiếp tục thu lợi và phát triển, có khi còn phát triển với tốc độ cao hơn. Thực chất cơ bản bên trong của nhà đầu tƣ trong hoạt động đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài bao gồm: Duy trì và nâng cao hiệu quả sản xuất của chủ đầu tƣ (vấn đề vốn, kỹ thuật, sản phẩm,.); Khai thác các nguồn lực và xâm nhập thị trƣờng của các nƣớc nhận đầu tƣ; Tranh thủ lợi dụng chính sách khuyến khích của các nƣớc nhận đầu tƣ; Thông qua hoạt động đầu tƣ trực tiếp để thực hiện các ý đồ kinh tế (hoặc phi kinh tế) mà các hoạt động khác không thực hiện đƣợc. Đặc điểm Qua các khái niệm trên, có thể rút ra một số đặc điểm về đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài nhƣ sau: Thứ nhất, chủ đầu tƣ vốn FDI là chủ sở hữu vốn, là một bộ phận của hình thức chu chuyển vốn quốc tế trong đó chủ đầu tƣ có quốc tịch nƣớc ngoài, tiến hành đầu tƣ tại một nƣớc khác vì vậy nhà ĐTNN phải chấp hành luật pháp của nƣớc tiếp nhận đầu tƣ.
Chủ sở hữu vốn đầu tƣ trực tiếp tham gia quản lý, điều hành quá trình sử dụng vốn, có nghĩa vụ và quyền lợi từ hoạt động sản xuất kinh doanh tƣơng ứng với phần vốn góp đó.