Mở đầu của quá trình sản xuất kinh doanh, vốn mang hình thái tiền tệ (T). Sau đó, doanh nghiệp dùng tiền này để đầu tư, mua sắm tư liệu lao động (TLLĐ), đối tượng lao động (ĐTLĐ) và thuê sức lao động (SLĐ) để phục vụ cho quá trình sản xuất. Lúc này vốn từ hình thái tiền tệ chuyển sang hình thái các yếu tố của quá trình sản xuất. Quá trình sản xuất được tiến hành, tạo ra sản phẩm hàng hóa và vốn tồn tại dưới dạng tư bản hàng hóa.
Cuối cùng, khi hàng hóa được tiêu thụ xong, vốn lại quay trở lại hình thái ban đầu, từ hình thái tư bản hàng hóa chuyển về hình thái tiền tệ. Trong quá trình vận động, vốn có thể thay đổi sang nhiều hình thái khác nhau, nhưng bắt đầu và kết thúc đều là giá trị (T‘ >T). Quá trình vận động này diễn ra liên tục, thường xuyên lặp lại sau mỗi chu kỳ kinh doanh và được gọi là quá trình tuần hoàn, chu chuyển vốn kinh doanh của daonh nghiệp. Tuy nhiên, quá trình này diễn ra nhanh hay chậm lại phụ thuộc rất lớn vào đặc điểm kinh tế kĩ thuật của từng ngành kinh doanh, vào trình độ sắp xếp tổ chức sản xuất kinh doanh của từng doanh nghiệp.
Với doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ, vốn vận động theo công thức (T-T’). Với các DN thương mại dịch vụ, sự vận động của vốn thể hiện Sinh viên: Đinh Thị Thanh Huyền Lớp CQ48/11.10 Luận văn tốt nghiệp Học viện Tài chính qua phương thức: T – H – T’. Nhờ có sự vận động đó, đồng vốn mới có khả năng bảo toàn và sinh lời. Như vậy ta có thể rút ra kết luận: “Vốn kinh doanh là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ giá trị tài sản được huy động, sử dụng vào hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm mục đích sinh lời.Vốn kinh doanh không chỉ là điều kiện tiên quyết đối với sự ra đời của DN mà còn là một trong những yếu tố giữ vai trò quyết định trong quá trình hoạt động và phát triển của DN.
Đặc trưng của vốn kinh doanh Trong nền kinh tế thị trường, vốn kinh doanh có những đặc điểm sau đây: - Được biểu hiện bằng giá trị tài sản thực sử dụng trong quá trình sản xuất kinh doanh. Tức là vốn được biểu hiện bằng những giá trị của tài sản hữu hình hoặc vô hình như nhà xưởng, đất đai, máy móc thiết bị, nguyên nhiên vật liệu, chất xám, thông tin… - Phải luôn vận động sinh lời. Vốn được biểu hiện bằng tiền, nhưng tiền chỉ là dạng tiềm năng của vốn. Để tiền trở thành vốn, tiền phải được sử dụng cho mục đích kinh doanh, tiền phải vận động để sinh lời.
Trong quá trình vận động, đồng vốn có thể thay đổi hình thái biểu hiện nhưng điểm xuất phát và điểm cuối cùng của vòng tuần hoàn phải là giá trị và giá trị tăng lên. - Phải phát huy tác dụng khi đã tích tụ tập trung đến một lượng nhất định. Vốn phải đạt đến một đại lượng đủ lớn mới có thể hoạt động để sinh lời. Để đầu tư kinh doanh, các DN không chỉ khai thác tiềm năng về vốn của chủ DN mà còn phải tìm cách thu hút các nguồn vốn bên ngoài như kêu gọi góp vốn, phát hành cổ phiểu, trái phiếu, liên doanh liên kết.
Sinh viên: Đinh Thị Thanh Huyền Lớp CQ48/11.10 Luận văn tốt nghiệp Học viện Tài chính - Phải gắn với một hoặc nhiều chủ sở hữu nhất định. Khi đồng vốn gắn với chủ sỡ hữu nhất định thì mới hướng người ta quan tâm đến hiệu quả sử dụng vốn, bởi đó chính là lợi ích của chính họ. - Phải có giá trị về mặt thời gian. Điều này cũng có ý nghĩa là các DN phải xem xét yếu tố thời gian vận động của vốn.
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường hội nhập, do ảnh hưởng của giá cả, lạm phát nên sức mua hay giá trị của dồng tiền ở các thời điểm khác nhau cũng khác nhau. Bởi vậy sự bảo toàn giá trị và mức sinh lời của vốn phải tính tới những biến động của giá cả hàng hoá và giá trị đồng tiền. Mặt khác vốn tồn tại dưới dạng tài sản cố định sẽ bị hao mòn vô hình rất nhanh, tỷ suất khấu hao nhanh nên cần phải tính đến thời gian vận động sinh lời của vốn kinh doanh. - Trong nền kinh tế thị trường, vốn phải được quan niệm là hàng hoá song đó là một loại “hàng hoá đặc biệt”.
Thành phần của vốn kinh doanh Căn cứ vào đặc điểm chu chuyển của vốn khi tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh, vốn kinh doanh của DN được chia thành vốn cố định và vốn lưu động. Hai thành phần này của vốn kinh doanh có đặc điểm chu chuyển khác nhau, tỷ trọng của chúng trong cơ cấu vốn kinh doanh khác nhau tùy vào độ dài của chu trình sản xuất, trình độ trang thiết bị kỹ thuật, trình độ quản lý trong DN. Đối với mỗi DN thì việc xác định được tỷ trọng của mỗi thành phần này trong cơ cấu vốn kinh doanh của mình là rất quan trọng, nó đảm bảo cho việc sử dụng hiệu quả vốn kinh doanh trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Ta đi xem xét từng loại vốn này trong doanh nghiệp.
Vốn cố định của doanh nghiệp: Sinh viên: Đinh Thị Thanh Huyền Lớp CQ48/11.10 Luận văn tốt nghiệp Học viện Tài chính Vốn cố định (VCĐ) của doanh nghiệp là toàn bộ số tiền ứng trước mà doanh nghiệp bỏ ra để đầu tư hình thành nên các tài sản cố định (TSCĐ) dùng cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Nói cách khác, vốn cố định là biểu hiện bằng tiền của tài sản cố định. Tài sản cố định là gì? Tài sản cố định trong DN là những tư liệu lao động sản xuất có giá trị lớn, thời gian sử dụng lâu dài, giữ vai trò quan trọng mà đặc điểm của chúng là tham gia nhiều vào quá trình sản xuất, giữ nguyên hình thái vật chất và đặc tính sử dụng ban đầu, bị hao mòn dần, giá trị của chúng chuyển dịch từng phần vào giá trị sản phẩm trong mọi chu trình sản xuất. Đặc trưng của vốn cố định: + Vốn cố định là số vốn đầu tư ứng trước, vì vậy số tiền này phải được thu hồi lại một cách đầy đủ để bảo toàn vốn cố định.
+ Do vốn cố định là vốn đầu tư ứng trước về TSCĐ vì vậy quy mô của VCĐ lớn hay nhỏ sẽ quyết định quy mô của TSCĐ trong DN cũng như trình độ trang bị cơ sở kỹ thuật vật chất và năng lực sản xuất của doanh nghiệp. + Đặc điểm kinh tế kỹ thuật của TSCĐ trong quá trình tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh sẽ chi phối đặc điểm vận động (luân chuyển) của vốn cố định. Đặc điểm luân chuyển của vốn cố định: + Một là, vốn cố định tham gia vào nhiều chu kỳ kinh doanh của DN. Điều này xuất phát từ đặc điểm của TSCĐ là được sử dụng lâu dài, sau nhiều năm mới cần thay thế, đổi mới.
+ Hai là, trong quá trình sản xuất kinh doanh, vốn cố định được luân chuyển từng phần vào giá trị sản phẩm. Trong mỗi chu kỳ sản xuất kinh doanh chỉ có một bộ phận vốn cố định được chu chuyển và cấu thành chi phí sản xuất kinh doanh dưới hình thức khấu hao TSCĐ tương ứng với phần giá Sinh viên: Đinh Thị Thanh Huyền Lớp CQ48/11.10 Luận văn tốt nghiệp Học viện Tài chính trị hao mòn của TSCĐ. Bộ phận còn lại chưa chu chuyển tồn tại dưới hình thức là giá trị còn lại của TSCĐ. Bộ phận này ngày một giảm đi cùng với sự gia tăng về thời gian sử dụng của TSCĐ.
+ Ba là, sau nhiều chu kỳ kinh doanh, vốn cố định mới hình thành một vòng luân chuyển. Vốn cố định chỉ hoàn thành một vòng tuần hoàn khi TSCĐ đã hết thời gian sử dụng. Từ những đặc điểm trên ta có thể rút ra kết luận về vốn cố định như sau: Vốn cố định của DN là bộ phận của vốn đầu tư ứng trước của tài sản cố định. Đặc điểm của nó là chu chuyển giá trị dần dần từng phần trong nhiều chu kỳ kinh doanh và hoàn thành một vòng chu chuyển khi tái sản xuất được tài sản cố định về mặt giá trị.Vốn cố định là một bộ phận quan trọng của vốn kinh doanh.Việc tăng thêm vốn cố định trong các DN có tác động lớn đến việc tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật của DN.
Vốn lưu động của doanh nghiệp: Vốn lưu động (VLĐ) là toàn bộ số tiền ứng trước mà doanh nghiệp bỏ ra đầu tư hình thành nên các tài sản lưu động (TSLĐ) thường xuyên cần thiết cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Tài sản lưu động là gì? Để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, ngoài tư liệu lao động, doanh nghiệp cần có đối tượng lao động. Đối tượng lao động mà chỉ tham gia vào một chu kỳ sản xuất và không giữ nguyên hình thái vật chất ban đầu, giá trị của nó được chuyển dịch toàn bộ một lần vào giá trị sản phẩm…Đối tượng lao động nói trên xét về hình thái hiện vật được gọi là các tài sản lưu động. Tài sản lưu động thường được chia làm 2 loại: TSLĐ sản xuất và TSLĐ lưu thông.
Trong quá trình sản xuất, TSLĐ sản xuất và TSLĐ lưu thông luôn vận động thay thế và chuyển hóa lẫn nhau nhằm đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh được diễn ra liên tục. Trong quá trình sản xuất kinh doanh, Sinh viên: Đinh Thị Thanh Huyền Lớp CQ48/11.10 Luận văn tốt nghiệp Học viện Tài chính để hình thành các TSLĐ sản xuất và TSLĐ lưu thông, DN phải bỏ ra một lượng vốn đầu tư nhất định. Vì vậy, có thể nói, vốn lưu động là biểu hiện bằng tiền của TSLĐ. Do vốn lưu động là biểu hiện bằng tiền của TSLĐ nên đặc điểm vận động của vốn lưu động luôn chịu sự chi phối bởi những đặc điểm của TSLĐ.
Có thể xem quá trình vận động của vốn lưu động được thể hiện như sau: T --- H --- SX ---> H/ - T/ * Khởi đầu vòng tuần hoàn, vốn lưu động dùng để mua sắm các đối tượng lao lao động trong khâu dự trữ sản xuất, ở giai đoạn này vốn đã thay đổi hình thái từ vốn tiền tệ sang vốn vật tư:T - H. * Tiếp theo là giai đoạn sản xuất, vật tư được chế tạo thành bán thành phẩm và thành phẩm: H- SX -H/ * Kết thúc vòng tuần hoàn, sau khi sản phẩm được tiêu thụ, vốn lưu động lại chuyển từ hình thái vật chất sang vốn tiền tệ như điểm xuất phát ban đầu:H/ -T.