CHƯƠNG 1 SV: Trần Tuấn Nghĩa Lớp: CQ48/11.10 10 Học Viện Tài Chính Luận văn tốt nghiệp NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ VỐN CỐ ĐỊNH VÀ QUẢN TRỊ VỐN CỐ ĐỊNH CỦA DOANH NGHIỆP 1.1 Vốn cố định của doanh nghiệp 1. Khái niệm tài sản cố định và vốn cố định trong DN 1. Tài sản cố định của doanh nghiệp I. Khái niệm - đặc điểm TSCĐ của doanh nghiệp * Khái niệm TSCĐ: Để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh các doanh nghiệp phải có ba yếu tố cơ bản: Tư liệu lao động, đối tượng lao động và sức lao động.
Khác với các đối tượng lao động (Nguyên vật liệu, sản phẩm dở dang, bán thành phẩm,.), các tư liệu lao động (như máy móc thiết bị, nhà xưởng, phương tiện vận tải,.) là những phương tiện vật chất được sử dụng để tác động vào đối tượng lao động, biến đổi nó theo mục đích của con người. Trong quá trình sản xuất kinh doanh, bộ phận quan trọng nhất, thường chiếm tỉ trọng lớn nhất là các TSCĐ. Đó là những tư liệu lao động chủ yếu được sử dụng một cách trực tiếp (máy móc thiết bị, phương tiện vận tải, công cụ quản lý) hay gián tiếp (nhà xưởng, công trình kiến trúc, các khoản chi phí đầu tư mua sắm TSCĐ vô hình,. Tiêu chuẩn nhận biết TSCĐ đối với mỗi quốc gia, mỗi thời kỳ không giống nhau.
ở nước ta, theo thông tư số 45/2013/TT – BTC ban hành ngày 15/4/2013, TSCĐ của doanh nghiệp phải thỏa mãn đồng thời cả 4 tiêu chuẩn sau: a) Chắc chắn thu được lợi ích kinh tế trong tương lai từ việc sử dụng tài sản đó; b) Có thời gian sử dụng trên 1 năm trở lên; SV: Trần Tuấn Nghĩa Lớp: CQ48/11.10 11 Học Viện Tài Chính Luận văn tốt nghiệp c) Nguyên giá tài sản phải được xác định một cách tin cậy và có giá trị từ 30.000 đồng (Ba mươi triệu đồng) trở lên. Những tư liệu lao động không đủ các tiêu chuẩn qui định trên được coi là những công cụ lao động nhỏ, được mua sắm bằng nguồn vốn lưu động của doanh nghiệp. Tuy nhiên, trong thực tế việc xem xét tiêu chuẩn và nhận biết TSCĐ của doanh nghiệp là phức tạp hơn nhiều. Tư liệu lao động là từng tài sản hữu hình có kết cấu độc lập, hoặc là một hệ thống gồm nhiều bộ phận tài sản riêng lẻ liên kết với nhau để cùng thực hiện một hay một số chức năng nhất định mà nếu thiếu bất kỳ một bộ phận nào trong đó thì cả hệ thống không thể hoạt động được.
Trường hợp một hệ thống gồm nhiều bộ phận tài sản riêng lẻ liên kết với nhau, trong mỗi bộ phận cấu thành có thời gian sử dụng khác nhau và nếu thiếu một bộ phận nào đó mà cả hệ thống vẫn thực hiện được chức năng hoạt động chính của nó nhưng do yêu cầu quản lý, sử dụng TSCĐ đòi hỏi phải quản lý riêng từng bộ phận tài sản, thì mỗi bộ phận tài sản đó nếu cùng thỏa mãn đồng thời bốn tiêu chuẩn của TSCĐ được coi là một TSCĐ hữu hình độc lập (ví dụ, đối với vườn cây lâu năm thì từng mảnh vườn, hoặc cây thỏa mãn đồng thời bốn tiêu chuẩn của TSCĐ được coi là một TSCĐ hữu hình). Mọi khoản chi phí thực tế mà doanh nghiệp đã chi ra thỏa mãn đồng thời cả ba điều kiện qui định trên, mà không hình thành TSCĐ hữu hình thì được coi là TSCĐ vô hình. Từ những nội dung trình bày ở trên có thể định nghĩa TSCĐ như sau: “TSCĐ là tài sản của doanh nghiệp mà đặc điểm của nó là tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất, giá trị TSCĐ chuyển dịch dần dần từng phần vào giá trị sản phẩm tạo ra” * Đặc điểm của TSCĐ: SV: Trần Tuấn Nghĩa Lớp: CQ48/11.10 12 Học Viện Tài Chính Luận văn tốt nghiệp - TSCĐ có thời gian sử dụng lâu dài, tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh, phát huy năng lực sản xuất trong một thời gian dài. - Trong quá trình sử dụng, TSCĐ giữ nguyên hình thái vật đặc tính sử dụng ban đầu.
Giá trị TSCĐ chuyển dịch dần dần từng phần theo mức độ hao mòn giá trị sản phẩm mà nó tạo ra. - Sau nhiều chu kỳ kinh doanh mới cần đổi mới TSCĐ (khi TSCĐ đã hết thời gian sử dụng hoặc không phát huy hiệu quả kinh tế). Phân loại TSCĐ. Để quản lý TSCĐ một cách khoa học và hợp lý, người ta phân chia TSCĐ theo những tiêu thức nhất định.
Thông thường có những cách phân loại chủ yếu sau: * Phân loại TSCĐ theo hình thái biểu hiện kết hợp với tính chất đầu tư, toàn bộ tài sản cố định của doanh nghiệp được chia làm 3 loại: - Tài sản cố định hữu hình: Là những tư liệu lao động chủ yếu có hình thái vật chất (từng đơn vị tài sản có kết cấu độc lập hoặc là một hệ thống gồm nhiều bộ phận tài sản liên kết với nhau để thực hiện một hay một số chức năng nhất định) thoả mãn các tiêu chuẩn của tài sản cố định hữu hình, tham gia vào nhiều chu kỳ kinh doanh nhưng vẫn giữ nguyên hình thái vật chất ban đầu như nhà cửa, vật kiến trúc, máy móc, thiết bị. - Tài sản cố định vô hình: là những tài sản không có hình thái vật chất, thể hiện một lượng giá trị đã được đầu tư thoả mãn các tiêu chuẩn của tài sản cố định vô hình, tham gia vào nhiều chu kỳ kinh doanh, như một số chi phí liên quan trực tiếp tới đất sử dụng; chi phí về quyền phát hành, bằng phát minh, bằng sáng chế, bản quyền tác giả. - Tài sản cố định thuê tài chính: là những tài sản cố định mà doanh nghiệp thuê của công ty cho thuê tài chính. Khi kết thúc thời hạn thuê, bên thuê được quyền lựa chọn mua lại tài sản thuê hoặc tiếp tục thuê theo các điều kiện đã SV: Trần Tuấn Nghĩa Lớp: CQ48/11.10 13 Học Viện Tài Chính Luận văn tốt nghiệp thoả thuận trong hợp đồng thuê tài chính.
Tổng số tiền thuê một loại tài sản quy định tại hợp đồng thuê tài chính, ít nhất phải tương đương với giá trị của tài sản đó tại thời điểm ký hợp đồng. Mọi hợp đồng thuê tài sản cố định nếu không thoả mãn các quy định trên được coi là tài sản cố định thuê hoạt động. Cách phân loại này giúp cho người quản lý có cách nhìn tổng thể về cơ cấu đầu tư về TSCĐ hữu hình, TSCĐ vô hình, TSCĐ thuê tài chính của doanh nghiệp. Là một trong những căn cứ quan trọng để xây dựng, lựa chọn các quyết định đầu tư dài hạn hoặc điều chỉnh cơ cấu đầu tư phù hợp và có hiệu quả nhất đối với doanh nghiệp.
* Phân loại TSCĐ theo tình hình sử dụng. Căn cứ tình hình sử dụng, TSCĐ của doanh nghiệp được chia thành các loại: - TSCĐ đang sử dụng - TSCĐ chưa cần dùng - TSCĐ không cần dùng chờ thanh lý Cách phân loại này, giúp người quản lý đánh giá khái quát tình hình sử dụng TSCĐ của doanh nghiệp, mức độ sử dụng có hiệu quả các TSCĐ của doanh nghiệp. Từ đó có biện pháp nâng cao hơn nữa hiệu quả sử dụng chúng. * Phân loại TSCĐ theo mục đích sử dụng.
Căn cứ vào mục đích sử dụng, TSCĐ của doanh nghiệp được chia thành các loại: - TSCĐ dùng cho mục đích kinh doanh: Là những TSCĐ dùng trong hoạt động sản xuất kinh doanh cơ bản và hoạt động sản xuất kinh doanh phụ của doanh nghiệp. - TSCĐ dùng cho mục đích phúc lợi, sự nghiệp, an ninh, quốc phòng SV: Trần Tuấn Nghĩa Lớp: CQ48/11.10 14 Học Viện Tài Chính Luận văn tốt nghiệp - TSCĐ bảo quản hộ, giữ hộ, cất giữ hộ Nhà nước Cách phân loại này giúp người quản lý thấy được cơ cấu TSCĐ theo mục đích sử dụng. Từ đó, xác định trọng tâm quản lý TSCĐ, có biện pháp quản lý thích hợp đối với mỗi loại nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng TSCĐ của doanh nghiệp. * Phân loại TSCĐ theo công dụng kinh tế.
Căn cứ vào công dụng kinh tế, toàn bộ TSCĐ của doanh nghiệp được chia thành các loại: - Nhà cửa, vật kiến trúc: Là những TSCĐ của doanh nghiệp được hình thành sau quá trình thi công xây dựng như nhà xưởng, trụ sở làm việc, đường xá,. - Máy móc thiết bị: Là toàn bộ các loại máy móc thiết bị dùng trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nh máy móc đơn lẻ, thiết bị động lực, dây chuyền công nghệ,. - Phương tiện vận tải, thiết bị truyền dẫn: Là các loại phương tiện vận tải nh phương tiện đường sắt, đường thủy, đường ống và các thiết bị truyền dẫn,. - Thiết bị dụng cụ quản lý: Là những thiết bị, dụng cụ dùng trong công tác quản lý hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nh máy vi tính, thiết bị điện tử, máy hút bụi,.
- Vườn cây lâu năm, súc vật làm việc hoặc cho sản phẩm: Là các vườn cây lâu năm như vườn chè, vườn cây ăn quả, súc vật làm việc hoặc cho sản phẩm như đàn voi, đàn bò,. - Các loại TSCĐ khác: Là toàn bộ các loại TSCĐ khác chưa liệt kê vào năm loại trên như tranh ảnh, tác phẩm nghệ thuật,. Cách phân loại này giúp người quản lý biết kết cấu TSCĐ theo công dụng kinh tế. Từ đó, người quản lý đánh giá được trọng tâm quản lý, trình độ SV: Trần Tuấn Nghĩa Lớp: CQ48/11.10 15 Học Viện Tài Chính Luận văn tốt nghiệp cơ sở vật chất kỹ thuật của doanh nghiệp và để có định hướng đầu tư vào TSCĐ, mang lại hiệu quả cao cho doanh nghiệp.
Mặt khác, tạo điều kiện thuận lợi cho việc quản lý và thực hiện khấu hao TSCĐ. Mỗi cách phân loại trên đây cho phép đánh giá, xem xét kết cấu TSCĐ của doanh nghiệp theo các tiêu thức khác nhau. Kết cấu TSCĐ là tỷ trọng giữa nguyên giá của một loại TSCĐ nào đó so với tổng nguyên giá các loại TSCĐ của doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định. Kết cấu TSCĐ giữa các doanh nghiệp trong các ngành sản xuất khác nhau hoặc thậm chí trong cùng một ngành sản xuất cũng không hoàn toàn giống nhau.
Sự khác biệt hoặc biến động của kết cấu TSCĐ của doanh nghiệp trong các thời kỳ khác nhau chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố như qui mô sản xuất, khả năng thu hút vốn đầu tư, khả năng tiêu thụ sản phẩm trên thị trường, trình độ tiến bộ khoa học kỹ thuật trong sản xuất. Tuy nhiên đối với các doanh nghiệp, việc phân loại và phân tích tình hình kết cấu TSCĐ là một việt làm cần thiết giúp doanh nghiệp chủ động điều chỉnh kết cấu TSCĐ sao cho có lợi nhất cho việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cố định của doanh nghiệp.