Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ THUẾ TNDN TẠI CHI CỤC THUẾ THÀNH PHỐ SÔNG TỈNH THÁI NGUYÊN 1. Cơ sở lý luận về quản lý thuế TNDN đối với doanh nghiệp NQD trên địa bàn thành phố Sông Công 1. Vai trò và đặc điểm của doanh nghiệp NQD 1. Khái niệm doanh nghiệp NQD Đại hộ Đảng lần thứ IV đã nhận định: Trong xã hội ta còn nhiều người có sức lao động, chưa có việc làm, chưa sử dụng hết thời gian lao động, khả năng thu hút sức lao động của khu vực Nhà nước là có hạn trong khi nguồn vốn của Nhà nước eo hẹp thì nguồn dữ trữ vốn trong nhân dân hầu như chỉ để đưa vào tiêu dùng, cất giữ.
Phải có chính sách mở đường cho người lao động tự tạo việc làm, kích thích mọi người đưa vốn vào sản xuất kinh doanh, mở rộng tái sản xuất trên quy mô toàn xã hội. Xuất phát từ sự đánh giá những tiền năng tuy phân tán. Nhưng rất quan trọng trong nhân dân, cả về sức lao động, kỹ thuật, tiền vốn, khả năng tạo việc làm, từ đó khu vực kinh tế ngoài quốc doanh được chính thức thừa nhận (Phan Bích Hà,2014). Theo Luật doanh nghiệp số 68/2014/QH13 ngày 26/11/2014 có quy định “Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh”.
Các loại hình doanh nghiệp ở Việt nam hiện nay bao gồm: Doanh nghiệp Nhà nước; doanh nghiệp tư nhân; Công ty TNHH (Công ty TNHH 2 thành viên trở lên; Công ty TNHH 1 thành viên); Công ty cổ phần; Công ty hợp doanh; Công ty liên doanh; Công ty 100% vốn nước ngoài. Theo hình thức sở hữu tài sản ở Việt Nam doanh nghiệp được chia thành 2 loại hình là: Doanh nghiệp Nhà nước và doanh nghiệp NQD. Số lượng doanh nghiệp tăng nhanh qua các năm, tỷ trọng doanh nghiệp ngoài quốc doanh chiếm trên 90% trong tổng số doanh nghiệp đang hoạt động. Tính đến ngày 31/12/2016, theo số liệu của Tổng cục Thống kê, cả nước có trên 612 ngàn doanh nghiệp ngoài nhà nước đang hoạt động, chiếm gần 97% số lượng doanh nghiệp và tạo ra hơn 60% việc làm.
Các doanh nghiệp ngoài Nhà nước download by : skknchat@gmail.com 5 ngày càng khẳng định vị trí của mình, nhiều thương hiệu đã có chỗ đứng vững chắc ở thị trường trong và ngoài nước. Trước đây, nền kinh tế nước ta gồm hai thành phần kinh tế là kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể. Khi hội nhập, mở cửa nền kinh tế nước ta gồm nhiều thành phần kinh tế. Trong đó theo hình thức sở hữu vốn có doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp NQD.
Hiện nay, tồn tại nhiều quan niệm khác nhau về doanh nghiệp NQD (có tác giả cho rằng doanh nghiệp NQD là loại hình doanh nghiệp không thuộc sở hữu Nhà nước, chủ doanh nghiệp là người quyết định mọi vấn đề liên quan tới doanh nghiệp; cũng có tác giả cho rằng doanh nghiệp NQD không chịu bất cứ sự chi phối nào của Nhà nước, doanh nghiệp tự chủ trong hoạt động tài chính của mình…) nhưng một trong những quan niệm về doanh nghiệp NQD được thừa nhận chung là: Doanh nghiệp NQD là hình thức doanh nghiệp không thuộc sở hữu của Nhà nước, trừ Hợp tác xã; toàn bộ vốn, lợi nhuận đều thuôc sở hữu tư nhân hay tập thể người lao động; chủ sở hữu hay chủ cơ sở sản xuất kinh doanh chịu trách nhiệm toàn bộ về hoạt động sản xuất kinh doanh và toàn quyền quyết định hình thức phân phối lợi nhuận sau khi đã hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế cho Nhà nước mà không chịu sự chi phối nào từ các Quyết định của Nhà nước hay cơ quan quản lý. Như vậy doanh nghiệp NQD là loại hình doanh nghiệp không thuộc sở hữu Nhà nước, không vốn của Nhà nước và không có vốn đầu tư nước ngoài. Nhà nước không tham gia vào hoạt động của doanh nghiệp. Các hình thức cụ thể của doanh nghiệp NQD bao gồm: - Công ty cổ phần; - Công ty TNHH (Công ty TNHH một thành viên, công ty TNHH 2 thành viên trở lên); - Công ty hợp doanh; - Doanh nghiệp tư nhân; - Hợp tác xã; Doanh nghiệp NQD là một loại hình doanh nghiệp nên nó mang đấy đủ đặc điểm của một doanh nghiệp như: có con dấu, có trụ sở giao dịch ổn định, có tài sản, download by : skknchat@gmail.com 6 được đăng ký kinh doanh…Bên cạnh đó các Doanh nghiệp NQD có những đặc điểm riêng.
Đó là: - Doanh nghiệp NQD là loại hình doanh nghiệp có tư liệu sản xuất, phương thức sản xuất thuộc sở hữu cá nhân hay tập thể người sáng lập. - Số lượng các doanh nghiệp NQD nhiều hay ít phụ thuộc vào cung cầu thị trường hàng hóa, sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế, quản điểm của Đảng và Nhà nước trong việc khuyến khích hay kiềm chế các hoạt đọng kinh tế vĩ mô. - Quy mô sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp NQD thường nhỏ, vốn ít, sử dụng lao động ít, sử dụng công nghệ máy móc thường lạc hậu thậm chí lỗi thời. - Các doanh nghiệp NQD có tính năng động cao, dễ thích nghi với hoàn cảnh, sự thay đổi của nền kinh tế, thể hiện: ngành nghề kinh doanh rất phong phú, đa dạng, như sản xuất tiểu thủ công nghiệp, khai thác khoáng sản, kinh doanh tương mại, cung cấp các dịch vụ, chế tác vàng, sản xuất chế biến thức ăn, sản xuất chế biến xi măng… nhưng chủ yếu tập trung vào kinh doanh thương mại, dịch vụ, sản xuất tiểu thủ công nghiệp.
Tuy nhiên đây lại là loại hình doanh nghiệp có ý thức chấp hành pháp luật không cao, thường xuyên gian lận thuế gây thất thu thuế nhất là thuế TNDN. - Tổ chức bộ máy quản lý của các doanh nghiệp NQD thường gọn gàng, linh hoạt, phù hợp với chức năng, hoạt động của mình. Đặc điểm của doanh nghiệp NQD Kinh tế tư nhân tuy rộng lớn nhưng về cơ bản là kinh tế hộ quy mô nhỏ và đang phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức. Trình độ công nghệ, kỹ thuật lạc hậu so với mức trung bình của thế giới, hơn nữa tốc độ đổi mới lại quá chậm.
Hạn chế về năng lực cán bộ và công tác nghiên cứu trong doanh nghiệp, nghiên cứu để ứng dụng trong sản xuất - kinh doanh. Trình độ quản lý và tay nghề của người lao động còn hạn chế: Tuy Việt Nam có lực lượng lao động dồi dào, trình độ học vấn tương đối cao so với các nước có cùng trình độ phát triển, nhưng chủ yếu là lao động làm việc giản đơn, tỷ lệ lao động đã qua đào tạo nghề thấp, sức khỏe hạn chế, năng xuất lao động không cao… Sức cạnh tranh của doanh nghiệp và sản phẩm, dịch vụ thấp: download by : skknchat@gmail.com 7 - Sức cạnh tranh của sản phẩm, dịch vụ: Yếu tố tư bản cấu thành trong sản phẩm thấp, hàm lượng tri thức và công nghệ trong sản xuất không cao, tính độc đáo không cao, giá trị gia tăng trong tổng giá trị sản phẩm nói chung thấp; - Khả năng hạn chế về vốn, khả năng tiếp cận nguồn thông tin…của các doanh nghiệp NQD, sự bảo hộ của Nhà nước đối với khu vực doanh nghiệp Nhà nước… đã hạn chế năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp NQD. Vai trò của doanh nghiệp NQD Hiện nay các doanh nghiệp NQD dang giữ vai trò chủ chốt trong nền kinh tế; luôn nhận dược sự quan tâm của Đảng và Nhà nước; hàng loạt các chính sách, chế độ đưa ra nhằm tạo khuôn khổ cho các doanh nghiệp NQD phát triển điển hình là Luật doanh nghiệp năm 2005, Luật doanh nghiệp năm 2014. Vậy chúng ta thử đặt câu hỏi xem vì sao các doanh nghiệp NQD lại được quan tâm như vậy? Để trả lời cho câu hỏi này chúng ta cùng tìm hiểu vai trò của các doanh nghiệp NQD đối với nề kinh tế - xã hội.
Vai trò của các doanh nghiệp NQD đối với nề kinh tế - xã hội bao gồm: - Tạo nguồn thu cho NSNN chủ yếu là thuế: Doanh nghiệp NQD tham gia vào mọi lĩnh vực, mọi ngành nghề của nền kinh tế, hàng năm các doanh nghiệp NQD đã mang lại nguồn thu đáng kể cho NSNN. Nếu như cơ chế quản lý tốt thì thì mức động viên từ các doanh nghiệp NQD sẽ ổn định và ngày càng chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu thu của NSNN. - Các doanh nghiệp NQD với số lượng đông đảo lại năng động nhạy bén luôn tạo ra nhiều sản phẩm cho xã hội, góp phần tăng GDP của quốc gia, thúc đẩy nền kinh tế phát triển mạnh mẽ hơn (GDP của các doanh nghiệp NQD thường chiếm 40% GDP của cả nước). - Các doanh nghiệp NQD là các đơn vị trung gian, đại lý bán, tiêu thụ hoặc tham gia sản xuất gia công một phần, một khâu, một giai đoạn trong quá trình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp NQD: Khi tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp Quốc doanh luôn cần đủ mọi đầu vào mà nhưng đầu vào này chủ yếu do các doanh nghiệp NQD cung cấp hoặc làm trung gian.
Qua đây chúng ta lại càng thấy rõ hơn mối quan hệ gắn bó khăng khít giữa các doanh nghiệp download by : skknchat@gmail.com 8 NQD các doanh nghiệp Quốc Doanh: doanh nghiệp NQD được coi là nhân tố xúc tác quan trọng cho sự phát triển kinh tế nói chung và sự phát triển, tồn tại của các doanh nghiệp Quốc doanh nói riêng. Trong điều kiện kinh tế thị trường như hiện nay các doanh nghiệp NQD và các doanh nghiệp Quốc doanh thực sự là đối thủ của nhau, cạnh tranh gay gắt với nhau để cùng tồn tại với nhau, dẫu biết rằng giữa chúng có mối quan hệ mật thiết với nhau. - Các doanh nghiệp NQD còn có vai trò ổn định kinh tế, tạo thêm công ăn việc làm cho người lao động, góp phần thúc đẩy sự nghiệp Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa đất nước, thực hiện mục tiêu: “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh”. Tóm lại: Các doanh nghiệp NQD có vai trò vô cùng quan trọng trong nền kinh tế, điều này đã trả lời cho câu hỏi vì sao Nhà nước lại ưu đãi các doanh nghiệp này như vậy.
Tuy nhiên các doanh nghiệp NQD là những doanh nghiệp nhỏ lẻ, hoạt động trên địa bàn rộng, ý thức chấp hành phấp luật rất thấp nên việc quản lý các doanh nghiệp NQD sẽ rất khó, nếu không quản lý tốt rất dễ dẫn tới thất thu thuế. Một số vấn đề về sắc thuế TNDN 1. Khái niệm, đặc điểm và vai trò của thuế TNDN a.