Tổng quan nghiên cứu

Quản lý chất thải rắn sinh hoạt đang là thách thức môi trường và kinh tế hàng đầu tại Việt Nam trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Theo báo cáo hiện trạng môi trường quốc gia, khối lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh trên toàn quốc vượt mức 61.000 tấn/ngày, trong đó khu vực đô thị phát sinh khoảng 37.000 tấn/ngày và nông thôn trên 24.000 tấn/ngày. Riêng tại tỉnh Ninh Bình, lượng phát sinh đạt khoảng 486,6 tấn/ngày, trong đó huyện Yên Mô đóng góp 44,8 tấn/ngày. Tốc độ gia tăng dân số đạt 118.715 người vào năm 2020 cùng với sự mở rộng của 4 cụm công nghiệp, 11 làng nghề truyền thống và 4.750 cơ sở sản xuất kinh doanh đã tạo áp lực cực lớn lên hạ tầng tiếp nhận rác thải địa phương.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn là sự mâu thuẫn giữa tốc độ phát sinh rác thải sinh hoạt ngày càng nhanh và năng lực quản lý, thu gom, xử lý còn nhiều hạn chế tại một huyện nông thôn đang trong lộ trình về đích chuẩn Huyện nông thôn mới. Khối lượng rác thải sinh hoạt tại huyện Yên Mô tăng mạnh từ 9.080 tấn năm 2017 lên 13.000 tấn năm 2020 (tăng 43,17%) và dự báo chạm ngưỡng 20.842 tấn vào năm 2025.

Mục tiêu của nghiên cứu là đánh giá toàn diện thực trạng công tác thu gom, lưu trữ, phân loại, vận chuyển và xử lý rác thải sinh hoạt trên địa bàn huyện Yên Mô giai đoạn 2018 - 2020; phân tích các yếu tố tác động đến hiệu quả quản trị; từ đó xác lập hệ thống giải pháp khả thi nhằm tăng cường hiệu lực quản lý kinh tế môi trường giai đoạn 2021 - 2025. Về mặt ý nghĩa, công trình cung cấp cơ sở dữ liệu thực nghiệm chuẩn xác, hỗ trợ chính quyền địa phương hoàn thiện tiêu chí cảnh quan - môi trường, tối ưu hóa nguồn lực tài chính công và nâng cao chất lượng sống bền vững cho người dân.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên sự tích hợp giữa lý thuyết kinh tế môi trường, lý thuyết hàng hóa công cộng và khung quản lý tổng hợp chất thải rắn (ISWM). Quản lý chất thải rắn sinh hoạt được tiếp cận như một chuỗi giá trị khép kín, bao gồm các mắt xích: phát sinh, phân loại tại nguồn, lưu trữ, thu gom, trung chuyển, tái chế và xử lý tiêu hủy cuối cùng. Các công cụ kinh tế môi trường đóng vai trò đòn bẩy điều tiết hành vi xả thải, bao gồm: phí người sử dụng dịch vụ, phí đổ bỏ và phí sản phẩm.

Hệ thống khái niệm nền tảng được định hình rõ ràng theo Luật Bảo vệ Môi trường năm 2014, Luật Bảo vệ Môi trường năm 2020 và Nghị định 38/2015/NĐ-CP:

  • Rác thải sinh hoạt: Toàn bộ chất thải rắn phát sinh từ hoạt động sinh hoạt thường ngày của con người và hộ gia đình.
  • Phân loại rác tại nguồn: Quy trình phân chia rác thành 3 nhóm căn bản gồm nhóm hữu cơ dễ phân hủy (chiếm 50% - 70% khối lượng), nhóm tái chế (chiếm khoảng 25%) và nhóm chất thải còn lại cần tiêu hủy.
  • Thu gom sơ cấp và thứ cấp: Chu trình tập hợp rác từ các hộ gia đình về điểm tập kết thôn xóm và chuyên chở cơ giới về khu xử lý tập trung.

Cơ sở pháp lý của đề tài bám sát Nghị quyết số 06/NQ-CP năm 2021, Quyết định số 2149/QĐ-TTg về Chiến lược quốc gia quản lý tổng hợp chất thải rắn, Chỉ thị 41/CT-TTg năm 2020, cùng các văn bản chỉ đạo trực tiếp của địa phương như Quyết định số 321/QĐ-UBND phê duyệt Đồ án quy hoạch quản lý chất thải rắn tỉnh Ninh Bình và Quyết định số 249/QĐ-UBND ban hành Đề án thu gom, vận chuyển, xử lý rác thải nông thôn giai đoạn 2020 - 2025.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp chặt chẽ giữa nguồn dữ liệu thứ cấp và dữ liệu sơ cấp nhằm bảo đảm tính khách quan, khoa học. Dữ liệu thứ cấp được tổng hợp từ báo cáo định kỳ giai đoạn 2018 - 2020 của Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Yên Mô, Chi cục Thống kê huyện, cùng các niên giám thống kê tỉnh Ninh Bình.

Để thu thập dữ liệu sơ cấp, tác giả triển khai phương pháp chọn mẫu phân tầng kết hợp chọn mẫu ngẫu nhiên với quy mô khảo sát 60 hộ gia đình tại 3 địa bàn đại diện: xã Khánh Dương (đại diện vùng đồng bằng), xã Yên Đồng (đại diện vùng bán sơn địa có hồ lớn) và thị trấn Yên Thịnh (đại diện khu vực đô thị trung tâm). Song song đó, nghiên cứu tiến hành phỏng vấn sâu đối với cán bộ quản lý môi trường cấp huyện, lãnh đạo UBND cấp xã và tổ công nhân trực tiếp làm công tác vệ sinh môi trường.

Lý do lựa chọn phương pháp phân tích thống kê mô tả, phân tích so sánh tỷ lệ phần trăm và phương pháp tổng hợp kinh tế là nhằm bóc tách định lượng cơ cấu chi phí, mức độ đồng thuận về biểu giá dịch vụ và các điểm nghẽn trong vận hành thực tế. Toàn bộ tiến trình điều tra thực địa được thực hiện trọn vẹn trong năm 2020.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, lượng rác thải sinh hoạt phát sinh tăng liên tục qua các năm với thành phần ngày càng phức tạp. Tổng khối lượng rác toàn huyện năm 2017 là 9.080 tấn, năm 2019 đạt khoảng 12.000 tấn và đến năm 2020 chạm mốc 13.000 tấn. Tỷ lệ phát sinh bình quân đạt 0,38 kg/người/ngày tại nông thôn và 0,65 kg/người/ngày tại khu vực thị trấn. Dự báo đến năm 2025, lượng rác cần xử lý sẽ lên tới 20.842 tấn/năm.

Thứ hai, hành vi lưu trữ và phân loại rác tại nguồn còn nhiều bất cập. Khảo sát 60 hộ gia đình cho thấy 100% hộ dân có vật dụng chứa rác, trong đó thùng/xô nhựa chiếm 40,00%, túi nilon chiếm 37,78%, bao dứa chiếm 13,33% và thùng xốp chiếm 11,11%. Tuy nhiên, tỷ lệ hộ thực hiện phân loại rác hữu cơ và vô cơ trước khi thải bỏ hầu như bằng không. Toàn bộ rác thải thực phẩm, túi nilon, thủy tinh và phế phụ phẩm sinh hoạt bị đổ chung vào một bao chứa.

Thứ ba, cơ chế tài chính chưa đảm bảo bù đắp chi phí vận hành. Theo quy định của Hội đồng nhân dân tỉnh Ninh Bình, mức thu phí vệ sinh môi trường tại thị trấn là 5.000 đồng/khẩu/tháng, tại các xã nông thôn là 3.000 đồng/khẩu/tháng và cơ sở sản xuất kinh doanh trên 100.000 đồng/m³. Đánh giá của người dân về mức phí này cho thấy: 52,22% số hộ cho rằng mức thu là vừa phải, phù hợp điều kiện sống; 23,33% cho rằng mức phí cao; 24,44% nhận định mức phí còn thấp. Nguồn thu này chỉ bù đắp được khoảng 30% - 40% chi phí xăng dầu, nhân công và hao mòn trang thiết bị thu gom.

Thứ tư, công tác tuyên truyền và giám sát chưa tương xứng với quy mô dân số. Trong 1 năm, toàn huyện chỉ tổ chức được 4 cuộc tuyên truyền trực tiếp với 128 lượt người tham dự và 8 đợt phát tờ rơi, áp phích. Lực lượng cán bộ phụ trách môi trường cấp xã 100% là kiêm nhiệm mảng Địa chính - Xây dựng, dẫn đến tần suất kiểm tra đột xuất và xử phạt vi phạm hành chính về xả rác bừa bãi còn rất thưa thớt.

Thảo luận kết quả

Dữ liệu khảo sát thực trạng có thể được minh họa sinh động thông qua biểu đồ tròn về cơ cấu vật dụng chứa rác và biểu đồ cột biểu diễn xu hướng tăng trưởng khối lượng rác thải giai đoạn 2017 - 2025. Nguyên nhân cốt lõi khiến công tác quản lý rác thải tại Yên Mô chưa đạt hiệu quả tối ưu nằm ở sự thiếu đồng bộ về hạ tầng công nghệ và hạn chế nguồn ngân sách sự nghiệp môi trường (thường chỉ chiếm tối thiểu 1% tổng chi thường xuyên).

So sánh với mô hình của huyện lân cận là Yên Khánh (tỉnh Ninh Bình) - nơi đã quy hoạch 19 bãi rác tập trung diện tích 1.000 m²/bãi, trang bị 4 lò đốt rác đứng công suất 10 tấn/ngày đêm tại các cụm xã và tỷ lệ thu gom đạt trên 85% - huyện Yên Mô vẫn chủ yếu dựa vào các tổ thu gom thủ công bằng xe đẩy tay và các điểm tập kết lộ thiên chưa có mái che, rãnh gom nước rỉ rác đạt chuẩn.

Mặt khác, kinh nghiệm xử lý rác hữu cơ bằng chế phẩm vi sinh Bio Micromix tại phường Phúc La (quận Hà Đông, Hà Nội) với chi phí đầu tư chỉ từ 400 - 500 triệu đồng cho công suất 3 - 5 tấn/ngày, hay bài học từ thành phố Horsholm (Đan Mạch) với tỷ lệ tái chế 61% và biến rác thành năng lượng 34%, cho thấy Yên Mô hoàn toàn có thể giảm tải 50% lượng rác chôn lấp nếu thúc đẩy công nghệ ủ phân vi sinh và tận thu rác tái chế tại nguồn.

Đề xuất và khuyến nghị

  1. Hoàn thiện cơ chế chính sách và tái cấu trúc định mức phí dịch vụ: UBND huyện Yên Mô kiến nghị HĐND tỉnh Ninh Bình điều chỉnh khung giá dịch vụ thu gom rác thải sinh hoạt theo lộ trình 2022 - 2025, tăng mức thu tại khu vực nông thôn từ 3.000 đồng lên 5.000 - 7.000 đồng/khẩu/tháng, thị trấn lên 8.000 - 10.000 đồng/khẩu/tháng nhằm bảo đảm bù đắp tối thiểu 70% chi phí vận hành cho các tổ vệ sinh môi trường.

  2. Quy hoạch và nâng cấp đồng bộ hạ tầng thu gom, xử lý: Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện chủ trì rà soát lại các điểm tập kết rác tại 17 xã, thị trấn theo đúng Quy chuẩn xây dựng QCVN 01:2019/BXD. Giai đoạn 2021 - 2023, đầu tư xây dựng các bãi tập kết có tường bao, mái che và hệ thống xử lý nước rỉ rác; trang bị bổ sung xe ô tô chuyên dụng ép rác và lò đốt liên xã công nghệ cao, phấn đấu nâng tỷ lệ thu gom xử lý đạt trên 90% lượng chất thải phát sinh vào năm 2025.

  3. Triển khai chương trình phân loại rác tại nguồn và mô hình ủ phân hữu cơ: UBND các xã phối hợp với Hội đồng Nông dân và Hội Phụ nữ phát động mô hình phân loại rác thành 3 ngăn tại 100% hộ gia đình. Tận dụng 50% - 70% lượng rác hữu cơ dễ phân hủy để làm phân bón vi sinh thông qua chế phẩm sinh học hoặc mô hình hố rác di động tại vườn, giảm thiểu tối đa khối lượng rác phải vận chuyển đi bãi chôn lấp tập trung Tam Điệp.

  4. Nâng cao năng lực nhân sự và đẩy mạnh chuyển đổi số trong giám sát: UBND huyện bố trí kinh phí đào tạo chuyên môn định kỳ hàng năm cho 100% cán bộ địa chính - môi trường cấp xã và lực lượng công nhân vệ sinh; trang bị đầy đủ bảo hộ lao động đạt chuẩn; đồng thời thiết lập đường dây nóng và ứng dụng mạng xã hội để tiếp nhận, xử lý 100% các phản ánh của người dân về hành vi vứt rác không đúng nơi quy định.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  1. Cơ quan quản lý nhà nước cấp huyện và xã: Luận văn là tài liệu tham chiếu trực tiếp cho lãnh đạo UBND huyện, Phòng Tài nguyên và Môi trường, Ban Quản lý dự án xây dựng và cán bộ phụ trách môi trường cấp xã trong việc xây dựng đề án bảo vệ môi trường, quy hoạch điểm trung chuyển rác và hoàn thiện tiêu chí cảnh quan nông thôn mới nâng cao.

  2. Doanh nghiệp và Hợp tác xã dịch vụ môi trường: Cung cấp bức tranh toàn cảnh về định mức chi phí, tuyến đường thu gom, khối lượng chất thải phát sinh và phản ứng của người dân đối với biểu phí, hỗ trợ các đơn vị dịch vụ lập phương án kinh doanh và tối ưu hóa quy trình vận tải rác thải.

  3. Giảng viên, nhà nghiên cứu và học viên cao học: Cung cấp nguồn tư liệu học thuật giá trị thuộc ngành Quản lý kinh tế và Khoa học môi trường; đóng góp hệ thống số liệu sơ cấp xác thực về thực trạng rác thải nông thôn vùng Đồng bằng sông Hồng giai đoạn 2018 - 2020.

  4. Các tổ chức chính trị - xã hội và cộng đồng địa phương: Hội Phụ nữ, Đoàn Thanh niên, Hội Cựu chiến binh có thể sử dụng các nội dung hướng dẫn phân loại rác, mô hình xử lý rác hữu cơ tại hộ gia đình làm tài liệu sinh hoạt chuyên đề, xây dựng các mô hình tự quản ngõ xóm sáng - xanh - sạch - đẹp.

Câu hỏi thường gặp

Khối lượng rác thải sinh hoạt phát sinh tại huyện Yên Mô biến động như thế nào qua các năm?

Khối lượng rác phát sinh tăng nhanh từ 9.080 tấn năm 2017 lên 13.000 tấn năm 2020, tương đương mức tăng 43,17%. Tốc độ gia tăng này xuất phát từ quá trình đô thị hóa đạt 10,8%, sự phát triển của 4.750 cơ sở sản xuất kinh doanh và sự thay đổi thói quen tiêu dùng nhiều bao bì nhựa, túi nilon khó phân hủy.

Vì sao tỷ lệ phân loại rác thải tại nguồn của các hộ dân Yên Mô vẫn ở mức rất thấp?

Nguyên nhân chủ yếu do người dân chưa có thói quen phân loại, thiếu sự đồng bộ về hạ tầng thu gom riêng biệt và công tác truyền thông còn mỏng khi chỉ có 4 cuộc tập huấn với 128 người tham dự mỗi năm. Do đó, dù 100% hộ có dụng cụ chứa rác nhưng đều đổ lẫn chất hữu cơ và vô cơ.

Mức phí thu gom rác hiện tại có đủ chi trả cho bộ máy vận hành không?

Biểu mức thu 3.000 đồng/khẩu/tháng ở xã và 5.000 đồng/khẩu/tháng ở thị trấn hiện chỉ đáp ứng khoảng 30% - 40% chi phí vận hành thực tế. Mặc dù 52,22% người dân đánh giá mức phí này là vừa phải, việc duy trì mức thu thấp khiến ngân sách huyện phải bù lỗ lớn cho hoạt động vận chuyển và xử lý.

Mô hình quản lý rác thải nào tại các địa phương lân cận có thể áp dụng cho Yên Mô?

Mô hình lò đốt liên xã công suất 10 tấn/ngày đêm kết hợp bãi tập kết 1.000 m² tại huyện Yên Khánh và mô hình ủ rác hữu cơ bằng chế phẩm sinh học Bio Micromix quy mô 3 - 5 tấn/ngày tại phường Phúc La (Hà Đông) là hai giải pháp công nghệ rất phù hợp với điều kiện ngân sách của huyện Yên Mô.

Mục tiêu then chốt trong công tác quản lý chất thải rắn của huyện đến năm 2025 là gì?

Huyện Yên Mô hướng tới mục tiêu thu gom và xử lý đạt trên 90% tổng lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh (dự kiến đạt 20.842 tấn/năm vào 2025), giảm tỷ lệ chôn lấp trực tiếp xuống dưới 30%, và 100% các xã, thị trấn hoàn thành tiêu chí môi trường trong chương trình xây dựng Nông thôn mới nâng cao.

Kết luận

  • Luận văn đã phân tích sâu sắc thực trạng rác thải sinh hoạt tại huyện Yên Mô với khối lượng phát sinh 13.000 tấn năm 2020 và dự báo vượt 20.842 tấn vào năm 2025.
  • Đánh giá toàn diện các rào cản nội tại bao gồm: 100% hộ dân chưa phân loại rác tại nguồn, mức thu phí dịch vụ còn thấp (3.000 - 5.000 đồng/khẩu/tháng) và nhân lực quản lý môi trường cấp cơ sở còn kiêm nhiệm.
  • Đóng góp hệ thống 4 nhóm giải pháp có tính khả thi cao về hoàn thiện cơ chế kinh tế, đầu tư hạ tầng lò đốt cụm xã, nhân rộng mô hình ủ phân hữu cơ vi sinh và đổi mới phương thức tuyên truyền.
  • Xác định lộ trình hành động cụ thể cho giai đoạn 2021 - 2025, phấn đấu đưa tỷ lệ thu gom, xử lý chất thải sinh hoạt toàn huyện đạt mốc trên 90%.
  • Các cấp chính quyền địa phương, tổ chức đoàn thể và cộng đồng dân cư cần khẩn trương phối hợp hành động, áp dụng đồng bộ các giải pháp quản lý để xây dựng huyện Yên Mô phát triển xanh, sạch, văn minh và bền vững.