phần mở đầu và phần kết luận, kiến nghị. Nội dung chính của Luận văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về nguồn thu ở các đơn vị sự nghiệp có thu. Chƣơng 2: Thực trạng phát triển nguồn thu của Đài PT&TH Quảng Bình. Chƣơng 3: Phƣơng hƣớng và giải pháp phát triển nguồn thu của Đài PT&TH Quảng Bình.
6 PHẦN II: NỘI DUNG CHƢƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NGUỒN THU Ở CÁC ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÓ THU 1. Tổng quan về đơn vị sự nghiệp có thu 1. Khái niệm và phân loại đơn vị sự nghiệp có thu 1. Khái niệm Đơn vị sự nghiệp công lập đƣợc xác định bởi các tiêu thức cơ bản [14]: Là các đơn vị công lập do cơ quan nhà nƣớc, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội thành lập theo quy định của pháp luật, hoạt động cung cấp dịch vụ công, phục vụ quản lý nhà nƣớc trong các lĩnh vực giáo dục, khoa học công nghệ, môi trƣờng, y tế, văn hóa thể dục thể thao, sự nghiệp kinh tế, dịch vụ việc làm.
Đƣợc nhà nƣớc đầu tƣ cơ sở vật chất, đảm bảo chi phí hoạt động thƣờng xuyên để thực hiện các nhiệm vụ chính trị, chuyên môn đƣợc giao. Đơn vị sự nghiệp đƣợc Nhà nƣớc cho phép thu một số loại phí, lệ phí, thu thông qua hoạt động sản xuất cung ứng dịch vụ rất đa dạng và ở hầu hết các lĩnh vực. Có tƣ cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản riêng. Phân loại đơn vị sự nghiệp có thu Theo Thông tƣ 71/2006/TT-BTC ngày 9/8/2006 hƣớng dẫn thực hiện Nghị định số 43/NĐ-CP ngày 25/4/2006 của Chính phủ có thể phân loại đơn vị sự nghiệp thành 03 loại, căn cứ vào khả năng bảo đảm chi phí hoạt động thƣờng xuyên, hay nói cách khác là căn cứ vào nguồn thu từ hoạt động cung ứng “dịch vụ công” của đơn vị [5].
Cụ thể là: Mức tự bảo đảm chi phí hoạt Tổng số nguồn thu sự nghiệp x 100% = động thƣờng xuyên của đơn vi Tổng số chi hoạt động thƣờng xuyên Căn cứ vào mức tự bảo đảm chi phí hoạt động thƣờng xuyên, đơn vị sự nghiệp đƣợc phân loại nhƣ sau: - Đơn vị sự nghiệp tự bảo đảm chi phí hoạt động, gồm: + Đơn vị sự nghiệp có mức tự bảo đảm chi phí hoạt động thƣờng xuyên xác định theo công thức trên, bằng hoặc lớn hơn 100%. 7 + Đơn vị sự nghiệp đã tự bảo đảm chi phí hoạt động từ nguồn thu sự nghiệp, từ nguồn NSNN do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nƣớc đặt hàng. - Đơn vị sự nghiệp tự bảo đảm một phần chi phí hoạt động: Là đơn vị sự nghiệp có mức tự bảo đảm chi phí hoạt động thƣờng xuyên xác định theo công thức trên, từ trên 10% đến dƣới 100%. - Đơn vị sự nghiệp do NSNN bảo đảm toàn bộ chi phí hoạt động, gồm: + Đơn vị sự nghiệp có mức tự bảo đảm chi phí hoạt động thƣờng xuyên xác định theo công thức trên, từ 10% trở xuống.
+ Đơn vị sự nghiệp không có nguồn thu. Đặc điểm hoạt đ ng của các đơn vị sự nghiệp có thu Đơn vị SNCT có các đặc điểm là [9]: Hoạt động theo nhiệm vụ chính trị, chuyên môn đƣợc giao, không vì mục đích sinh lợi. Do khả năng hạn hẹp của NSNN, không thể bảo đảm tất cả các khoản chi cho hoạt động dịch vụ của các đơn vị sự nghiệp nên để đáp ứng nhu cầu xã hội, Nhà nƣớc cho phép các đơn vị SNCT đƣợc thu một số loại phí, lệ phí từ hoạt động của mình nhƣ: học phí, viện phí, phí kiểm dịch. từ cá nhân, tập thể sử dụng các dịch vụ do đơn vị cung cấp.
Các đơn vị SNCT đƣợc tổ chức sản xuất kinh doanh (SXKD), cung ứng dịch vụ phù hợp với lĩnh vực hoạt động chuyên môn của mình. Do vậy, nguồn tài chính của các đơn vị SNCT không chỉ có kinh phí từ NSNN cấp mà còn có nguồn thu từ hoạt động sự nghiệp khác. Đơn vị SNCT chịu sự quản lý trực tiếp của cơ quan chủ quản (Bộ, ngành, UBND tỉnh, thành phố). Đồng thời chịu sự quản lý về mặt chuyên môn của các Bộ, ngành chức năng quản lý Nhà nƣớc về lĩnh vực hoạt động sự nghiệp và chính quyền địa phƣơng nơi đơn vị đóng trụ sở và hoạt động.
Nhƣ vậy, hoạt động của các đơn vị SNCT chịu sự quản lý của nhiều cấp quản lý với mối quan hệ đan xen, phức tạp ảnh hƣởng đến cơ chế quản lý của đơn vị. Vai trò của đơn vị sự nghiệp trong nền kinh tế quốc dân Sau khi thực hiện Nghị định số 10/2002/NĐ-CP ngày 16/1/2002 của Chính phủ cho thấy kết quả là đúng hƣớng, đáp ứng yêu cầu thực tiễn cuộc sống và phù hợp với tiến trình cải cách nền hành chính nhà nƣớc, ngày 25/4/2006 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 43/2006/NĐ-CP quy định về quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập và Nghị định số 16/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 quy định về cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập. [18] Trong thời gian qua, các đơn vị sự nghiệp công ở trung ƣơng và địa phƣơng đã có nhiều đóng góp cho sự ổn định và phát triển kinh tế xã hội của đất nƣớc. Thể hiện: - Cung cấp các dịch vụ công về giáo dục, y tế, văn hoá, thể dục, thể thao.
có chất lƣợng cao cho xã hội, đáp ứng nhu cầu ngày ngày tăng của nhân dân, góp phần cải thiện đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân. - Thực hiện các nhiệm vụ chính trị đƣợc giao nhƣ: đào tạo và cung cấp nguồn nhân lực có chất lƣợng và trình độ; khám chữa bệnh, bảo vệ sức khoẻ nhân dân, nghiên cứu và ứng dụng các kết quả khoa học, công nghệ; cung cấp các sản phẩm văn hoá, nghệ thuật. phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nƣớc. - Thông qua hoạt động thu phí, lệ phí theo quy định của Nhà nƣớc đã góp phần tăng cƣờng nguồn lực cùng với NSNN đẩy mạnh đa dạng hoá và xã hội hóa nguồn lực thúc đẩy sự phát triển của xã hội.
Các đơn vị sự nghiệp ở tất cả các lĩnh vực đã tích cực mở rộng các loại hình, phƣơng thức hoạt động, một mặt đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của nhân dân. Đồng thời cũng thu hút sự đóng góp của nhân dân đầu tƣ cho sự phát triển của hoạt động sự nghiệp, của xã hội. Nguồn tài chính ở các đơn vị sự nghiệp có thu 1. N i dung cơ ản về nguồn thu của đơn vị sự nghiệp có thu 1.
Khái niệm nguồn tài chính của đơn vị sự nghiệp có thu Các đơn vị sự nghiệp công lập chính là các thể chế phi lợi nhuận, phi thị trƣờng. Các đơn vị này tham gia hoạt động ở tất cả các ngành, các lĩnh vực của nền kinh tế quốc dân. Trong quản lý tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp công lập ở 9 nƣớc ta, ngƣời ta thƣờng gọi tắt là các đơn vị sự nghiệp Văn - Xã và các đơn vị sự nghiệp kinh tế (nông nghiệp, lâm nghiệp, giao thông, thuỷ lợi…). Do hoạt động mang tính chất phục vụ là chủ yếu, ở các đơn vị sự nghiệp công lập số thu thƣờng không lớn, không ổn định, hoặc không có thu.
Do đó, sự hình thành nguồn thu của các đơn vị sự nghiệp công lập thƣờng có sự xuất hiện của các nguồn: NSNN; Đơn vị tự thu; Nguồn khác; Nguồn NSNN cấp cho các nhiệm vụ không thƣờng xuyên [3]. Chủ thể trực tiếp quản lý tài chính ở các đơn vị sự nghiệp công lập là Thủ trƣởng các đơn vị đó. Vậy nguồn tài chính của đơn vị SNCT bao gồm từ hai nguồn. Thứ nhất là nguồn từ NSNN cấp.
Thứ hai là nguồn từ các hoạt động sự nghiệp. Cùng với các nguồn viện trợ, tài trợ, quà biếu, tặng, cho theo quy định của pháp luật và các nguồn khác. Các nguồn thu của đơn vị sự nghiệp có thu Một là, kinh phí do NSNN cấp: Kinh phí bảo đảm hoạt động thƣờng xuyên thực hiện chức năng, nhiệm vụ đối với đơn vị tự bảo đảm một phần chi phí hoạt động (sau khi đã cân đối nguồn thu sự nghiệp); đƣợc cơ quan quản lý cấp trên trực tiếp giao, trong phạm vi dự toán đƣợc cấp có thẩm quyền giao; Kinh phí thực hiện các nhiệm vụ khoa học và công nghệ (đối với đơn vị không phải là tổ chức khoa học và công nghệ);[2] Kinh phí thực hiện chƣơng trình đào tạo bồi dƣỡng cán bộ, viên chức; Kinh phí thực hiện các chƣơng trình mục tiêu quốc gia; Kinh phí thực hiện các nhiệm vụ do cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền đặt hàng (điều tra, quy hoạch, khảo sát, nhiệm vụ khác); Kinh phí thực hiện nhiệm vụ đột xuất đƣợc cấp có thẩm quyền giao; Kinh phí thực hiện chính sách tinh giản biên chế theo chế độ do nhà nƣớc quy định (nếu có); Vốn đầu tƣ xây dựng cơ bản, kinh phí mua sắm trang thiết bị, sửa chữa lớn tài sản cố định phục vụ hoạt động sự nghiệp theo dự án đƣợc cấp có thẩm quyền phê duyệt trong phạm vi dự toán đƣợc giao hàng năm; Vốn đối ứng thực hiện các dự án có nguồn vốn nƣớc ngoài đƣợc cấp có thẩm quyền phê duyệt; Kinh phí khác (nếu có).[2] Hai là, nguồn thu từ hoạt động sự nghiệp: Nguồn thu từ hoạt động sự nghiệp , gồm: 10 - Phần đƣợc để lại từ số thu phí, lệ phí thuộc ngân sách nhà nƣớc theo quy định của pháp luật.[2] - Thu từ hoạt động dịch vụ sự nghiệp công trong lĩnh vực sự nghiệp kinh tế và sự nghiệp khác phù hợp với chức năng, nhiệm vụ đƣợc cấp có thẩm quyền giao [2], nhƣ: + Sự nghiệp Giáo dục và Đào tạo: Thu từ hợp đồng đào tạo với các tổ chức trong và ngoài nƣớc; thu từ các hoạt động sản xuất, tiêu thụ sản phẩm thực hành thực tập, sản phẩm thí nghiệm; thu từ các hợp đồng dịch vụ khoa học và công nghệ và các khoản thu khác theo quy định của pháp luật. + Sự nghiệp Y tế, đảm bảo xã hội: Thu từ các hoạt động dịch vụ về khám, chữa bệnh, phục hồi chức năng, y tế dự phòng, đào tạo, nghiên cứu khoa học với các tổ chức; cung cấp các chế phẩm từ máu, vắc xin, sinh phẩm; thu từ các hoạt động cung ứng lao vụ (giặt là, ăn uống, phƣơng tiện đƣa đón bệnh nhân, khác); thu từ các dịch vụ pha chế thuốc, dịch truyền, sàng lọc máu và các khoản thu khác theo quy định của pháp luật.