Chương 1: Tổng quan về hoạt động huy động vốn tại NHTM 1. Hoạt động huy động vốn 1. Nguồn vốn của NHTM “Vốn của NHTM là những giá trị tiền tệ do NHTM tạo lập, huy động được để cho vay, đầu tư và thực hiện các giao dịch kinh doanh khác.”1 Nguồn vốn kinh doanh của ngân hàng bao gồm: Vốn huy động và vốn chủ sở hữu. Vốn chủ sở hữu “Vốn chủ sở hữu là những nguồn lực tự có mà chủ ngân hàng sở hữu và sử dụng vào mục đích kinh doanh theo luật định.”2 Mặc dù chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn vốn của ngân hàng nhưng vốn chủ sở hữu không chỉ cho thấy quy mô của ngân hàng mà nó còn là cơ sở để thu hút các nguồn vốn kinh doanh khác trên thị trường.
Vốn chủ sở hữu là yếu tố tài chính quan trọng nhất trong việc đảm bảo các khoản nợ với khách hàng. Hiện nay tại Việt Nam, NHNN quy định các TCTD phải duy trì tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu 9% giữa vốn tự có so với tổng tài sản có rủi ro. Chức năng của vốn chủ sở hữu: - Chức năng hoạt động - Chức năng bảo vệ - Chức năng điều chỉnh quy mô hoạt động hoặc quy mô đầu tư Vốn chủ sở hữu chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn vốn của ngân hàng. Tuy nhiên VCSH có vai trò rất quan trọng.
VCSH quyết định quy mô và cơ cấu của ngân hàng, khả năng mở rộng cho vay và đầu tư, cơ sở vật chất và thiết bị công nghệ hiện đại. 1 (NHND- PGS-TS. Tô Ngọc Hưng ( Chủ biên), 2014, p. Nguyễn Hồng Yến ( Chủ biên), 2016, p.
260) 5 Vốn chủ sở hữu bao gồm: Vốn của ngân hàng Quỹ của ngân hàng Các quỹ dự trữ của ngân hàng được coi như là vốn tự có. Hàng năm ngân hàng sẽ bổ sung các quỹ từ lợi nhuận ròng. (1) “Quỹ dự phòng tài chính: Dùng để bù đắp phần rủi ro còn lại của những tổn thất, thiệt hại về tài sản xảy ra trong quá trình kinh doanh sau khi được bù đắp bằng tiền bồi thường của các tổ chức, cá nhân gây ra tổn thất, của tổ chức bảo hiểm và sử dụng dự phòng trích lập trong chi phí; sử dụng cho các mục đích khác theo quy định của pháp luật. (2) Quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ, vốn được cấp dung để bổ sung vốn điều lệ, vốn được cấp.
(3) Quỹ đầu tư phát triển nghiệp vụ dùng để đầu tư mở rộng quy mô hoạt động kinh doanh và đổi mới công nghệ trang thiết bị, điều kiện làm việc của TCTD. Căn cứ vào nhu cầu đầu tư và khả năng của quỹ, TCTD quyết định hình thức và biện pháp đầu tư theo nguyên tắc có hiệu quả, an toàn và phát triển vốn.” 3 (4) Quỹ thưởng ban quản lý điều hành TCTD để thưởng cho Hội đồng thành viên, Ban giám đốc TCTD. (5) Quỹ khen thưởng dùng để thưởng cuối năm, thưởng đột xuất cho cán bộ nhân viên trong TCTD; thưởng cho cá nhân và đơn vị ngoài tổ chức có quan hệ kinh tế đã hoàn thành tốt điều kiện hợp đồng, đóng góp hiệu quả vào hoạt động kinh doanh của TCTD. (6) Quỹ phúc lợi dùng để đầu tư xây dựng các công trình phúc lợi của TCTD, trong toàn ngành; chi cho các hoạt động văn hóa, thể thao; chi trợ cấp khó khăn thường xuyên, đột xuất của cán bộ, nhân viên và chi cho các hoạt động phúc lợi khác.
Nguyễn Hồng Yến ( Chủ biên), 2016, p. 314) 6 Chênh lệch tỷ giá hối đoái Chênh lệch đánh giá lại tài sản Lợi nhuận chưa phân phối Trong quá trình hoạt động, ngân hàng có thể bổ sung nguôn vốn của mình theo nhiều cách khác nhau: - Phát hành thêm cổ phiếu - Bổ sung từ lợi nhuận - Bổ sung từ các quỹ Vốn huy động Vốn huy động là nguồn vốn chủ yếu của NHTM, chiếm phần lớn trong tổng nguồn vốn ( khoảng 80%) là công cụ kinh doanh chính của NHTM và thể hiện uy tín của ngân hàng. Vốn huy động càng lớn, ngân hàng càng có khả năng mở rộng kinh doanh, tăng doanh thu và lợi nhuận của mình. Hoạt động huy động vốn tại NHTM Hoạt động huy động vốn là nghiệp vụ cơ bản của các ngân hàng thương mại.
Với nguồn vốn tự có của mình, ngân hàng không thể đáp ứng được hoạt động kinh doanh bởi nhu cầu vốn trên thị trường rất lớn. Muốn kinh doanh có lợi nhuận thì việc đầu tiên ngân hàng cần phải huy động những nguồn vốn nhàn rỗi của cá nhân và tổ chức kinh tế. trên cơ sở đó, ngân hàng sẽ thực hiện cho vay nhằm đáp ứng sản xuất, tiêu dùng. Ngân hàng mở rộng hoạt động huy động vốn càng lớn thì uy tín của ngân hàng càng được khẳng định.
Song ngân hàng cần kết hợp với chiến lược, mục tiêu kinh doanh đủ có cơ cấu huy động và sử dụng vốn một cách hiệu quả, đem lại lợi nhuận, uy tín tối đa cho ngân hàng. 7 Tùy theo kinh tế phát triển của từng vùng, ngân hàng có chiến lược và mục tiêu nguồn vốn phù hợp. Từ đó vừa đáp ứng được nhu cầu về vốn, vừa thu được lợi nhuận cho mình. Nhận tiền gửi Trong xã hội, khi nền kinh tế phát triển, thu nhập của người dân tăng cao sẽ xuất hiện một khoản tiền nhàn rỗi.
NHTM nhận khoản tiền này và trả một lãi suất nhất định. Gồm tiền gửi cá nhân, doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế khác. Tiền gửi không kì hạn với mục đích thực hiện các nghiệp vụ thanh toán không dùng tiền mặt trong sản xuất kinh doanh. Thông qua tài khoản tiền gửi thanh toán, chủ tài khoản có thể phát hành sẽ hoặc ủy nhiệm chi.
Nguồn huy động này mặc dù khối lượng lớn nhưng có tính ổn định thấp, ngân hàng luôn bị động trước yêu cầu thanh toán của khách hàng. Các cá nhân và tổ chức khi mở tài khoản cần có các quy định về pháp lý. Sau khi có tài khoản, chủ tài khoản phải để một khoản tiền chính là số dư tối thiểu mà ngân hàng quy định. Ngoài số dư duy trì trên tài khoản, người gửi có thể rút ra hay gửi vào bất cứ lúc nào, được hưởng tiện ích thanh toán vì vậy hưởng lãi suất rất thấp hoặc không được hưởng lãi.
Với ngân hàng đây là nguồn vốn có chi phí huy động thấp, càng huy động được nhiều thì số dư tiền gửi tại ngân hàng cao, dịch vụ phát triển, nguồn vốn ổn định. Tiền gửi có kì hạn là loại tiền gửi thanh toán chủ yếu được doanh nghiệp sử dụng với kế hoạch chi tiêu có kì hạn hay những khoản vốn chuyên dùng mà khách hàng cần phải quản lý riêng. “Loại tiền này thường kèm theo quy định về kì hạn cố định với một mức lãi suất cố định trước hoặc theo thỏa thuận và không có giới hạn về số tiền gửi tối thiểu.” 4 4 (NHND- PGS-TS. Tô Ngọc Hưng ( Chủ biên), 2014, p.
43) 8 Tiền gửi tiết kiệm không kì hạn là loại tiền gửi nhàn rỗi của dân cư với mục đích hưởng lãi, đảm bảo an toàn cho khoản tiền đó chứ không có mục đích thanh toán qua ngân hàng. “Do nhu cầu chi tiêu không xác định được trước nên khách hàng chỉ gửi không kì hạn để hưởng lãi.”5 Tiền gửi tiết kiệm không kì hạn được hưởng lãi suất thấp, lãi được tính và nhập gốc hàng tháng. “Khi gửi tiết kiệm không kì hạn, khách hàng sẽ được ngân hàng trao cho một quyển sổ tiết kiệm để theo dõi.”6 Khác với tiền gửi tiết kiệm không kì hạn, tiền gửi thanh toán của khách hàng được theo dõi trên tài khoản thông qua các giấy báo Nợ, báo Có của ngân hàng. Tiền gửi tiết kiệm có kì hạn là loại tiền gửi nhàn rỗi của dân cư với mục đích hưởng lãi.
Do nhu cầu chi tiêu được xác định trước nên khách hàng gửi tiền với kì hạn nhất định. Theo nguyên tắc, khách hàng chỉ được rút tiền khi đến hạn. tuy nhiên, nếu khách hàng đến rút tiền trước hạn, ngân hàng sẽ tùy theo chính sách sẽ trả khách hàng lãi suất không kì hạn hoặc mức lãi suất thấp hơn theo thời gian gửi thực tế của khách hàng. Tiền gửi tiết kiệm có kì hạn được hưởng lãi suất cao hơn tiền gửi không kì hạn do có tính ổn định cao.
Tùy theo chính sách của từng ngân hàng, mức lãi suất tỷ lệ thuận với kì hạn, kì hạn càng dài thì lãi suất càng cao. Tiền gửi tiết kiệm có kì hạn có 3 loại ( xét theo phương thức trả lãi): - Loại lãi trả trước - Loại lãi trả hàng tháng hoặc theo định kì - Loại lĩnh lãi và vốn một lần khi đáo hạn 5 (TS. Nguyễn Hồng Yến ( Chủ biên), 2016, p. Nguyễn Hồng Yến ( Chủ biên), 2016, p.
Vay NHNN, các TCTD trong và ngoài nước Trong quá trình hoạt động, NHTM có thể vay NHNN theo nhiều hình thức khác nhau như: Vay thông thường, vay thanh toán bù trừ, vay cầm cố, vay chiết khấu, vay kì hạn, vay hỗ trợ đặc biệt… đây là cách tốt nhất để bổ sung nguồn vốn dự trữ đáp ứng khả năng thanh toán. Đặc biệt vay thanh toán bù trừ và vay chiết khấu mang tính giúp đỡ NHTM có nhu cầu tạm thời về vốn. Việc vay vốn của NHNN giúp ngân hàng giải quyết tình trạng thiếu vốn tạm thời. Tuy nhiên thời hạn của nguồn vốn đi vay này rất ngắn nên NHTM phải nhanh chóng tìm kiếm nguồn vốn mới để trả khi đến hạn.
Đồng thời, chi phí khoản vay tại NHNN thường cao hơn so với khoản vay khác. Ngoài ra, để đáp ứng nhu cầu vay vốn của khách hàng hoặc các dự án đầu tư phát triển, ngân hàng có thể đi vay các TCTD khác trong và ngoài nước. “Đồng thời, các NHTM có thể vay trên thị trường liên ngân hàng với kì hạn qua đêm hoặc theo ngày để đáp ứng nhu cầu vốn tạm thời. Phát hành giấy tờ có giá Ngoài huy động vốn thông qua nhận tiền gửi và đi vay, ngân hàng còn huy động vốn bằng cách phát hành các giấy tờ có giá nhằm hút vốn trên thị trường tiền tệ.
các loại giấy tờ có giá bao gồm: Trái phiếu ngân hàng, chứng chỉ tiền gửi, kì phiếu ngân hàng. Khi phát hành giấy tờ có giá, ngân hàng có thể phát hành theo các trường hợp sau: - Phát hành ngang giá: đây là hình thức phát hành trái phiếu đúng bằng mệnh giá của trái phiếu. “Trường hợp này xảy ra khi lãi suất thị trường bằng lãi suất danh nghĩa của trái phiếu phát hành. Nguyễn Hồng Yến ( Chủ biên), 2016, p.
Nguyễn Hồng Yến ( Chủ biên), 2016, p.