CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT NGHIỆP VỤ HUY ĐỘNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI Lịch sử ra đời của NHTM gắn liền với lịch sử phát triển của sản xuất lưu thông hàng hóa và lịch sử phát triển của tiền tệ. Trong quá trình hình thành và phát triển, hoạt động NHTM không ngừng lớn mạnh về quy mô cũng như cung ứng sản phẩm dịch vụ tài chính đa dạng. Vai trò của NHTM được biểu hiện ở các chức năng của nó như tạo tiền, tổ chức thanh toán, huy động vốn, mở rộng tín dụng, tài trợ ngoại thương, dịch vụ. Với tư cách là trung gian tài chính, NHTM không chỉ là trung gian luân chuyển vốn mà còn là trung gian cung cấp các dịch vụ thanh toán, môi giới và tư vấn.
Tính chất phức tạp của các nghiệp vụ NH ngày càng được tăng lên, do đó rất khó có một định nghĩa hoàn chỉnh. Theo Luật các TCTD tại Việt Nam (công bố ngày 26/12/1997 và được sửa đổi bổ sung ngày 06/07/2004) thì: NHTM là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ NH với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi, sử dụng số tiền này để cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán và các hoạt động kinh doanh khác liên quan. CÁC NGUỒN VỐN TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NHTM Huy động các nguồn vốn khác nhau trong xã hội để hoạt động kinh doanh là nghiệp vụ quan trọng nhất của các NHTM. Trong bảng tổng kết tài sản, toàn bộ nguồn vốn của NH thể hiện bên tài sản Nợ (bao gồm các khoản nợ phải trả cho người khác và vốn chủ sở hữu).
Vốn chủ sở hữu Vốn thuộc sở hữu của NHTM là những giá trị tiền tệ do NHTM tạo lập được và thuộc sở hữu NH với các nguồn hình thành khác nhau. Nếu là NH thuộc sở hữu nhà nước thì do ngân sách Nhà nư ớc cấp, nếu là NH tư nhân thì đó là v ốn do các cá nhân bỏ ra, nếu là NH cổ phần thì do cổ đông đóng góp, còn n ếu là NH liên doanh thì do các bên tham gia liên doanh góp. 2 Vốn chủ sở hữu bao gồm vốn điều lệ và vốn bổ sung trong quá trình hoạt động như: quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ được trích từ lợi nhuận ròng hàng năm theo một tỷ lệ nhất định nhằm tăng cường vốn chủ sở hữu của NH; quỹ dự trữ đặc biệt để dự phòng bù đắp rủi ro trong quá trình hoạt động kinh doanh NH; lợi nhuận chưa phân bổ và các quỹ nghiệp vụ khác (quỹ phúc lợi, quỹ khen thưởng, khấu hao, quỹ phát triển nghiệp vụ kỹ thuật NH,…). Đặc điểm của nguồn vốn này là rất ổn định, chức năng chủ yếu của vốn chủ sở hữu bao gồm chức năng bảo vệ, chức năng hoạt động và chức năng điều chỉnh.
Vốn chủ sở hữu chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn vốn của NH nhưng lại là nguồn vốn rất quan trọng vì nó cho thấy thực lực, quy mô của NH và là cơ sở để thu hút các nguồn vốn khác, là khởi đầu tạo uy tín của NH đối với khách hàng. Vốn huy động Vốn huy động là nguồn vốn chủ yếu của NHTM, được hình thành từ hoạt động huy động tiền gửi của NH trên thị trường, thực chất là tài sản bằng tiền của các chủ sở hữu mà NH tạm thời quản lý và sử dụng, với nghĩa vụ hoàn trả kịp thời, đầy đủ theo thỏa thuận giữa NH và khách hàng. Các NH nhờ nắm được quyền sử dụng số tiền nhàn rỗi của khách hàng, họ sẽ mang cho vay hoặc đầu tư để kiếm lời. Đối với người gửi tiền, ngoài lãi suất thì nhu cầu giao dịch với sự tiện lợi nhanh chóng và an toàn là yếu tố cơ bản để họ quan tâm khi gửi tiền vào NH.
Đối với bản thân các NH, vốn huy động là nguồn vốn chủ yếu, luôn chiếm tỷ trọng rất lớn trong tổng nguồn vốn. Hoạt động của NH hầu như dựa hẵn vào nguồn vốn này và đây chính là nguồn vốn tạo ra nguồn lực tài chính cho NH. Vì vậy, các NH luôn nỗ lực tìm mọi biện pháp nhằm tăng khả năng cạnh tranh, thu hút ngày càng nhiều vốn nhàn rỗi, phục vụ cho hoạt động kinh doanh của mình. Để làm được điều này, trước hết các NH phải từng bước đa dạng hóa các phương thức huy động vốn, kết hợp với một cơ chế lãi suất linh hoạt và các dịch vụ tiện ích khác nhằm thu hút khách hàng.
Theo NĐ 146 của CP thì vốn huy động gồm có: a) Vốn huy động tiền gửi của các tổ chức và cá nhân; b) Vốn vay các tổ chức tín dụng trong và ngoài nước; c) Vốn vay Ngân hàng Nhà nước; d) Phát hành các giấy tờ có giá. Vốn điều hòa trong hệ thống Các NHTM hoạt động trên các địa bàn khác nhau nên luôn luôn xuất hiện tình trạng ở chi nhánh NH này thừa vốn trong khi ở chi nhánh khác lại thiếu vốn. Sở dĩ có hiện tượng này là do: Về phía chi nhánh NH thừa vốn có thể có sự biến động lớn ở đầu ra dẫn đến việc không mở rộng đư ợc hoạt động trong khi vẫn phải duy trì việc huy động vốn. Còn về phía chi nhánh NH thiếu vốn do thị trường đầu ra mở rộng trong khi thị trường đầu vào không thể mở rộng được nữa.
Lúc này các hội sở chính sẽ thực hiện việc điều phối chuyển vốn, từ nơi này sang nơi khác từ nơi thừa vốn sang nơi thiếu vốn. Chính vì thế đây là nguồn vốn khá quan trọng, nó giúp NH có thể mở rộng đ ược thị trường đầu ra trong khi thị trường đầu vào còn bị hạn chế. Vốn trong thanh toán: Trong quá trình làm trung gian thanh toán NHTM cũng có một khoản vốn gọi là khoản vốn trong thanh toán như vốn trên tài khoản tiền gửi mở thư tín dụng, tài khoản tiền gửi bảo chi séc và các khoản tiền phong tỏa do các NH chấp nhận các hối phiếu thương mại,. Vốn nhận ủy thác đầu tư và các nguồn vốn khác Đây là nguồn vốn mà NHTM nhận làm NH đại lí, nhận ủy thác của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước để cho vay trung, dài hạn thực hiện những chương trình dự án có mục tiêu định trước trong sản xuất kinh doanh.
Thông qua nghiệp vụ này NH sẽ được hưởng phí hoa hồng và NH không có trách nhiệm thẩm định những khách hàng loại này. Nguồn vốn loại này rất đa dạng, phong phú với đặc điểm là lãi suất rất thấp, thời gian trả nợ thường dài (với vốn ODA là 30-40 năm). Đây là nghiệp vụ mang tính chất trung gian của NHTM mà qua đó NHTM có thể đáp ứng nhu cầu tín dụng cho nền kinh tế. Thông thường vốn tài trợ gồm ba khoản: một khoản tài trợ không hoàn lại, một khoản cho vay lãi suất thấp và một khoản có thời gian ân hạn - thời gian từ lúc vay cho đến lúc trả nợ coi như bằng không.
NH nhận làm đại lí sẽ trộn ba khoản trên để có một lãi suất hòa đồng cộng với phí NH để cho vay lại. Ngoài các nguồn vốn trên, NHTM còn có các nguồn vốn khác như: thuế, lương, nợ cổ đông về lợi tức phải trả nhưng chưa tới kỳ hạn thanh toán, các khoản phải trả, các khoản tiền tạm gửi theo quyết định của toà án,… 4 1. VAI TRÒ CỦA VỐN HUY ĐỘNG ĐỐI VỚI NHTM. Đối với bất kỳ doanh nghiệp nào, muốn hoạt động kinh doanh được thì phải có vốn bởi vốn phản ánh năng lực chủ yếu để quyết định khả năng kinh doanh.
Riêng NH- một doanh nghiệp kinh doanh một loại hàng hoá đặc biệt là “tiền tệ” với đặc thù hoạt động kinh doanh là “đi vay để cho vay” nên nguồn vốn đối với hoạt động kinh doanh của NH lại càng có vai trò hết sức quan trọng. Với chức năng tập trung và phân phối cho các nhu cầu của nền kinh tế, một nguồn vốn huy động dồi dào sẽ tạo cho NHTM điều kiện để mở rộng hoạt động kinh doanh, đa dạng hoá các loại hình dịch vụ, không bỏ lỡ cơ hội đầu tư, giảm thiểu rủi ro, tạo dựng được uy tín cho NHTM. Như vậy, NHTM đã thực hiện vai trò tập trung vốn và phân phối lại vốn dưới hình thức tiền tệ, làm tăng nhanh quá trình luân chuyển vốn, kích thích mọi hoạt động kinh tế phát triển. Đồng thời, chính các hoạt động đó lại quyết định sự tồn tại và phát triển quá trình kinh doanh của NHTM.
Sau đây là những vai trò cụ thể của yếu tố vốn: 1. Vốn quyết định khả năng thanh toán của NHTM Trong nền kinh tế thị trường, để tồn tại và ngày càng mở rộng quy mô hoạt động đòi hỏi các NH phải có uy tín lớn trên thị trường đó là điều trọng yếu. Uy tín đó phải được thể hiện trước hết ở khả năng sẵn sàng thanh toán, chi trả cho khách hàng của NHTM. Chúng ta đã biết, đại bộ phận vốn của NHTM là vốn tiền gửi và đi vay, do vậy NH phải trả cho khách hàng khi họ có yêu cầu rút tiền.
Với một NHTM có quy mô vốn nhỏ, khi nhu cầu vay vốn trên thị trường là rất lớn, một mặt NHTM không đáp ứng đủ nhu cầu vay, mặt khác với quy mô nhỏ, NH TM nếu cho vay tối đa nguồn vốn huy động được, dự trữ ít sẽ dẫn đến mất khả năng thanh toán. Trong khi đó, với một NH trường vốn, họ thực hiện dự trữ đủ khả năng thanh toán đồng thời vẫn thỏa mãn được nhu cầu vay vốn của nền kinh tế, do đó sẽ tạo được uy tín ngày càng cao. Khả năng thanh toán của NHTM càng cao thì vốn khả dụng của NH TM càng lớn. Vì vậy nếu loại trừ các nhân tố khác, khả năng thanh toán của NHTM tỷ lệ thuận với vốn của NHTM nói chung và với vốn khả dụng của NH TM nói riêng.
Với tiềm năng vốn lớn, NH TM có thể hoạt động kinh doanh với quy mô ngày càng mở rộng, tiến hành các hoạt động cạnh tranh có hiệu quả nhằm giữ chữ tín, vừa nâng cao vị thế của NHTM. Vốn quyết định năng lực cạnh tranh của NHTM Thực tế đã chứng minh: quy mô, trình độ nghiệp vụ, phương tiện kỹ thuật của NHTM là tiền đề cho việc thu hút nguồn vốn. Đồng thời, khả năng vốn lớn là điều kiện thuận lợi đối với NHTM trong việc mở rộng quan hệ tín dụng với các thành phần kinh tế xét cả về quy mô, khối lượng tín dụng; chủ động về thời gian, thời hạn cho vay, thậm chí quyết định mức lãi suất vừa phải cho khách hàng.