CHƯƠNG I LÝ LUẬN CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG MUA BÁN VÀ SÁP NHẬP TRONG NGÀNH NGÂN HÀNG 1. Khái niệm mua bán và sáp nhập Theo từ điển Bách khoa toàn thư Wikipedia, mua bán và sáp nhập xuất phát từ cụm từ tiếng Anh Mergers and Acquisitions (sau đây viết tắt là M&A) là việc sáp nhập và mua bán các doanh nghiệp trên thị trường. Bên cạnh đó, người ta còn dịch cụm từ này là sáp nhập và mua lại. M&A là hoạt động giành quyền kiểm soát một doanh nghiệp, một bộ phận doanh nghiệp thông qua việc sở hữu một phần hoặc toàn bộ doanh nghiệp Tại Việt Nam, khái niệm M&A được định nghĩa theo luật như sau: Theo điều 17, luật cạnh tranh năm 2004 quy định: “Sáp nhập doanh nghiệp là việc một hoặc một số doanh nghiệp chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của mình sang một doanh nghiệp khác, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của doanh nghiệp bị sáp nhập.” “Mua lại doanh nghiệp là việc một doanh nghiệp mua toàn bộ hoặc một phần tài sản của doanh nghiệp khác đủ để kiểm soát, chi phối toàn bộ hoặc một ngành nghề của doanh nghiệp bị mua lại.” Theo Thông tư Số: 04/2010/TT-NHNN Quy định việc sáp nhập, hợp nhất, mua lại TCTD có định nghĩa: “Sáp nhập tổ chức tín dụng là hình thức một hoặc một số tổ chức tín dụng (sau đây gọi là tổ chức tín dụng bị sáp nhập) sáp nhập vào một tổ chức tín dụng khác (sau đây gọi là tổ chức tín dụng nhận sáp nhập) bằng cách chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp sang tổ chức tín dụng nhận sáp nhập, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của tổ chức tín dụng bị sáp nhập.” “Hợp nhất tổ chức tín dụng là hình thức hai hoặc một số tổ chức tín dụng (sau đây gọi là tổ chức tín dụng bị hợp nhất) hợp nhất thành một tổ chức tín dụng mới (sau đây gọi là tổ chức tín dụng hợp nhất) bằng cách chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ 6 và lợi ích hợp pháp sang tổ chức tín dụng hợp nhất, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của các tổ chức tín dụng bị hợp nhất.” “Mua lại tổ chức tín dụng là hình thức một tổ chức tín dụng (sau đây gọi là tổ chức tín dụng mua lại) mua toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của tổ chức tín dụng khác (tổ chức tín dụng bị mua lại).
Sau khi mua lại, tổ chức tín dụng bị mua lại trở thành công ty trực thuộc của tổ chức tín dụng mua lại.” Như vậy, đối với khái niệm mua lại được Luật cạnh tranh 2004 hiểu với nghĩa rộng hơn khi bao gồm cả việc mua lại toàn bộ và mua lại chỉ một phần tài sản của TCTD khác đủ để kiểm soát, chi phối họ. Trong hoạt động M&A có hai chủ thể chính tham gia: (1) Công ty thu mua: là công ty mua hoặc thâu tóm một công ty khác (2) Công ty mục tiêu: là công ty bị sáp nhập hay mua lại 1. Phân loại mua bán và sáp nhập 1. Theo tiêu chí ngành Căn cứ vào chức năng của các TCTD thành viên tham gia vào quá trình M&A mà hoạt động này được chia thành 3 hình thức: M&A theo chiều ngang, M&A theo chiều dọc và M&A kết hợp.
(1) M&A theo chiều ngang (Horizontal): đây là hình thức mua bán, sáp nhập giữa các doanh nghiệp cùng ngành, giữa các doanh nghiệp cạnh tranh trực tiếp, có cùng dòng sản phẩm hoặc thị trường. Thông qua hoạt động M&A sẽ giúp mở rộng thị trường hoặc mở rộng hệ thống danh mục sản phẩm. Ví dụ, ngân hàng Shinhan Việt Nam mua lại mảng bán lẻ của ngân hàng ANZ năm 2017. (2) M&A theo chiều dọc (Vertical): đây là hình thức mua bán, sáp nhập giữa các doanh nghiệp trong cùng chuỗi cung ứng.
Có nghĩa là hoạt động mua lại hay sáp nhập với các doanh nghiệp tham gia vào các giai đoạn khác nhau trong quá trình sản xuất và cung ứng, từ đó kiểm soát được chất lượng nguồn đầu vào, đầu ra và giảm chi phí trung gian,. Đối với ngành ngân hàng, ví dụ như khi một ngân hàng mua lại một công ty bảo hiểm. 7 (3) M&A kết hợp (Conglomerate): đây là hình thức mua bán, sáp nhập giữa các doanh nghiệp trong các lĩnh vực kinh doanh khác nhau để hình thành nên các tập đoàn và từ đó phân tán rủi ro nhờ đa dạng hóa trong các hoạt động kinh doanh và đầu tư khác nhau. Theo tiêu chí địa lý (1) M&A trong nước: là hình thức mua bán, sáp nhập diễn ra trong lãnh thổ một quốc gia, không có sự tham gia giữa các tài sản xuyên biên giới.
(2) M&A quốc tế: là hình thức mua bán, sáp nhập giữa các doanh nghiệp thuộc hai quốc gia khác nhau. Đây là một trong những hình thức ngày càng phổ biến trong thị trường hội nhập hiện nay. Đó là cách để các doanh nghiệp mở rộng hoạt động kinh doanh của mình ở đất nước khác mà giảm thiểu được tối đa các rào cản về cả kinh tế và pháp luật. Và đây cũng là con đường ngắn nhất giúp các doanh nghiệp tiếp cận thị trường ở một quốc gia mới.
Theo chiến lược M&A của thương vụ (1) M&A có thiện chí: là hoạt động mua bán, sáp nhập diễn ra trên cơ sở có sự đồng thuận và ủng hộ giữa cả hai bên, vì lợi ích chung của cả hai bên. (2)M&A mang tính thù địch: là hoạt động mua bán, sáp nhập mà trong đó doanh nghiệp bị mua lại không ủng hộ thương vụ này, lợi ích thuộc về doanh nghiệp mua lại. Hình thức này thường diễn ra dưới dạng mua gom cổ phiếu trên thị trường trên cơ sở lôi kéo các cổ đông bất mãn. Phương thức mua bán và sáp nhập Căn cứ vào đặc điểm, mục tiêu quản trị của từng doanh nghiệp mà sẽ áp dụng các phương thức mua bán, sáp nhập khác nhau.
Chào thầu Đây là phương thức mà trong đó ngân hàng có ý định mua lại toàn bộ ngân hàng mục tiêu của mình sẽ đề nghị các cổ đông hiện hữu của ngân hàng này bán lại số cổ phiếu của họ đang nắm giữ trên thị trường với giá trị cao hơn nhiều so với giá trị thị trường. Sở dĩ giá chào thầu này phải cao hơn giá trị thị trường của cổ phiếu họ đang nắm 8 giữ vì có như vậy thì mới đủ sức để hấp dẫn số đông các cổ đông này từ bỏ quyền sở hữu và quản lý của ngân hàng này cho người khác. Đối với hình thức chào thầu thường áp dụng trong các thương vụ M&A mang tính thù địch. Để có tài chính hỗ trợ cho thương vụ này, các ngân hàng mua lại sẽ có thể huy động tiền bằng cách: - Huy động vốn từ các cổ đông hiện hữu thông qua phát hành cổ phiếu mới hoặc trả cổ tức bằng cổ phiếu - Sử dụng thặng dư vốn - Vay từ các TCTD khác Đối với các ngân hàng bị mua lại, ban quản trị của ngân hàng sẽ mất quyền quản lý và định đoạt ngân hàng vào tay của ngân hàng thu mua và cổ đông của ngân hàng thu mua.
Họ chỉ có một cách để chống lại thương vụ bất lợi này đó là tìm kiếm sự bảo lãnh tài chính vững mạnh từ các tổ chức khác để đưa ra mức giá đủ hấp dẫn giữ lại các cổ đông hiện hữu. Thương lượng tự nguyện Đây là phương thức mà trong đó cả hai ngân hàng tham gia vào thương vụ đều nhìn thấy hoặc dự đoán được những lợi ích chung mà thương vụ sẽ đem lại cho cả hai bên sau M&A. Đây được coi là những cuộc “kết duyên” thân thiện, nhằm tìm kiếm điểm mạnh và bổ sung cho nhau tốt hơn. Trong thực tế các thương vụ thương lượng tự nguyện chiếm phần khá lớn trong số các thương vụ M&A.
Ví dụ trong ngành ngân hàng, cổ đông Ngân hàng TMCP Phát triển Mê Kông (MDB) đã bỏ phiếu đồng thuận phương án sáp nhập vào Ngân hàng TMCP Hàng Hải Việt Nam (Maritime Bank) với tỷ lệ trên 90%. Thu gom cổ phiếu trên thị trường chứng khoán Đây là phương thức mà yêu cầu việc mua lại phải tiến hành trong một thời gian dài và phải triển khai một cách âm thầm, tránh lộ ý định ra bên ngoài, gây xáo động thị trường. 9 Đối với phương thức này, các ngân hàng mua lại sẽ âm thầm thu mua cổ phiếu trên thị trường chứng khoán, nhận quyền chuyển nhượng từ các nhà đầu tư chiến lược, nhà đầu tư nhỏ lẻ. Khi tích góp đến đủ một lượng nhất định sẽ tiến hành triệu tập cuộc họp đại hội cổ đông bất thường để tiến hành thu mua nốt phần cổ phần còn lại và mua lại ngân hàng mục tiêu.
Tuy nhiên, phương thức này cần thực hiện một cách thật khéo léo, nếu gây xáo động đến thị trường, giá trị cổ phiếu của ngân hàng mục tiêu sẽ tăng lên rất nhanh và ngân hàng sẽ tốn một mức chi phí không hề nhỏ cho thương vụ. Ngược lại, nếu kết thúc trong êm đẹp, ngân hàng sẽ phải trả một mức chi phí thấp hơn nhiều so với phương thức chào thầu. Mua cổ phiếu Thông qua hoạt động mua cổ phần khi ngân hàng mục tiêu tăng vốn điều lệ hoặc đấu giá phát hành cổ phiếu ra công chúng. Đây là hình thức thâu tóm một phần nhưng đủ để các ngân hàng này được tham gia vào ban quản trị của ngân hàng mục tiêu.
Hoán đổi/ chuyển đổi cổ phiếu Đây là hình thức M&A diễn ra dưới những công ty trong cùng một tập đoàn. Đối với phương thức này, việc định giá sẽ là quan trọng nhất để đảm bảo được lợi ích của cổ đông của các bên. Mua tài sản Đây là phương thức mà trong đó thường sẽ có thêm sự xuất hiện của bên thứ ba là các công ty tư vấn định giá tài sản chuyên nghiệp. Ngân hàng thu mua và ngân hàng mục tiêu có thể đơn phương hoặc cùng nhau định giá tài sản của ngân hàng thông qua các công ty tư vấn định giá tài sản.
Mức giá định giá sẽ do hai bên thương lượng và nó có thể cao hoặc thấp hơn so với mức giá mà công ty định giá đưa ra. Vấn đề khó khăn nhất trong phương thức này là các tài sản vô hình như thương hiệu, nhân sự, văn hóa doanh nghiệp rất khó để định giá phù hợp. Lôi kéo cổ đông bất mãn Phương thức này thường xuất hiện khi các ngân hàng lâm vào tình hình kinh doanh thua lỗ, các cổ đông sẽ cảm thấy bất mãn với ban quản trị ngân hàng về lợi ích mà 10 họ nhận được từ chính đồng tiền mình bỏ ra.