phần mở đầu, danh mục các từ viết tắt, danh mục bảng biểu, đồ thị, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc trình bày trong 3 chƣơng: Chƣơng 1: Tổng quan về quản trị rủi ro tín dụng tại NHTM Chƣơng 2: Thực trạng quản trị rủi ro tín dụng tại VCB Vũng Tàu Chƣơng 3:Giải pháp quản trị rủi ro tín dụng tại VCBVũng Tàu. 1 CHƢƠNG I TỔNG QUAN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG 1. Rủi ro tín dụng ngân hàng 1. Khái niệm rủi ro tín dụng: - Trong hoạt động kinh doanh ngân hàng, tín dụng là hoạt động kinh doanh đem lại lợi nhuận chủ yếu của ngân hàng nhƣng cũng là nghiệp vụ tiềm ẩn rủi ro rất lớn.
Volker, cựu chủ tịch Cục dự trữ liên bang Mỹ (FED) cho rằng: “Nếu ngân hàng không có những khoản nợ xấu thì đó không phải là hoạt động kinh doanh”. - Rủi ro tín dụng là một trong những nguyên nhân chính gây tổn thất và ảnh hƣởng nghiêm trọng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh ngân hàng. Các định nghĩa về rủi ro tín dụng nhƣ sau: - Trong tài liệu “Financial Institutions Management - A Modern Perpective”, A.Lange định nghĩa rủi ro tín dụng là khoản lỗ tiềm tàng khi ngân hàng cấp tín dụng cho một khách hàng, nghĩa là khả năng các luồng thu nhập dự tính mang lại từ khoản cho vay của ngân hàng không thể đƣợc thực hiện đầy đủ về cả số lƣợng và thời hạn.Koch: Một khi ngân hàng nắm giữ tài sản sinh lợi, rủi ro xảy ra khi khách hàng sai hẹn - có nghĩa là khách hàng không thanh toán vốn gốc và lãi theo thỏa thuận. Rủi ro ro tín dụng là sự thay đổi tiềm ẩn của thu nhập thuần và thị giá dòng tiền khi khách hàng không thanh toán hay thanh toán trễ hạn (Bank Managemnet, University of South Carolina, the Drylen Press, 1995).
- Còn theo Henie Van Greuning … Sonja Brajovic Bratanovic: Rủi ro tín dụng đƣợc định nghĩa là nguy cơ mà ngƣời đi vay không thể chi trả tiền lãi hoặc hoàn trả vốn gốc so với thời hạn đã ấn định trong hợp đồng tín dụng. Đây là thuộc tính vốn có 2 của hoạt động ngân hàng.Rủi ro tín dụng tức là việc chi trả bị trì hoãn, hoặc tồi tệ hơn là không chi trả đƣợc toàn bộ.Điều này gây ra sự cố đối với dòng chu chuyển tiền tệ và ảnh hƣởng tới khả năng thanh khoản của ngân hàng (The World Bank). - Theo khoản 1 Điều 2 Quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng ban hành kèm theo Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nƣớc, rủi ro tín dụng là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết. - Các định nghĩa khá đa dạng nhƣng đúc kết lại các nội dung cơ bản của rủi ro tín dụng nhƣ sau: + Rủi ro tín dụng là khả năng xảy ra những sự kiện trong tƣơng lai làm cho Ngân hàng không đạt đƣợc mục tiêu đã đề ra và/hoặc gây thiệt hại, tổn thất cho ngân hàng, là rủi ro phát sinh trong quá trình cấp tín dụng ngân hàng, biểu hiện thực tế qua việc khách hàng không trả đƣợc nợ hoặc trả nợ không đúng hạn cho ngân hàng; + Rủi ro tín dụng còn đƣợc hiểu là sự xuất hiện các biến cố không bình thƣờng do chủ quan hoặc khách quan làm cho ngƣời đi vay không trả đƣợc nợ vay cho ngân hàng theo đúng những điều kiện ghi trên hợp đồng tín dụng.
+ Rủi ro tín dụng còn đƣợc gọi là rủi ro mất khả năng chi trả và rủi ro sai hẹn, là loại rủi ro liên quan đến chất lƣợng hoạt động tín dụng của ngân hàng. + Trong nền kinh tế thị trƣờng, cung cấp tín dụng là chức năng kinh tế cơ bản của Ngân hàng. Rủi ro trong ngân hàng có xu hƣớng tập trung vào danh mục tín dụng. Đây là rủi ro lớn nhất và thƣờng xuyên xảy ra nhất.Khi ngân hàng rơi vào trạng thái tài chính khó khăn nghiêm trọng thì nguyên nhân thƣờng phát sinh từ hoạt động tín dụng của ngân hàng.
Phân loại rủi ro tín dụng ngân hàng - Có nhiều cách phân loại rủi ro tín dụng khác nhau tùy theo tiêu chí, mục đích nghiên cứu. Có các hình thức phân loại chủ yếu sau: 1. Rủi ro khách quan và rủi ro chủ quan - Rủi ro khách quan là rủi ro do các nguyên nhân khách quan nhƣ thiên tai, dịch họa, ngƣời vay chết, mất tích hoặc các biến động ngoài dự kiến khác làm thất thoát vốn vay trong khi ngƣời vay đã thực hiện nghiêm túc các chế độ, chính sách hay các điều kiện trên hợp đồng. - Rủi ro chủ quan do nguyên nhân chủ quan của ngƣời vay và ngƣời cho vay vì vô tình hay cố ý làm thất thoát vốn vay hay vì những lý do chủ quan khác.
Rủi ro giao dịch và rủi ro danh mục - Rủi ro giao dịch là một hình thức của RRTD mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quá trình giao dịch và xét duyệt cho vay, đánh giá khách giá hàng. Rủi ro giao dịch bao gồm rủi ro lựa chọn, rủi ro đảm bảo và rủi ro nghiệp vụ. + Rủi ro lựa chọn là rủi ro có liên quan đến đánh giá và phân tích tín dụng khi ngân hàng lựa chọn những phƣơng án vay vốn có hiệu quả để ra quyết định cho vay. + Rủi ro đảm bảo phát sinh từ các tiêu chuẩn đảm bảo nhƣ các điều khoản trong hợp đồng cho vay, các loại tài sản đảm bảo, chủ thể đảm bảo, hình thức đảm bảo và mức cho vay vƣợt quá giá trị đảm bảo của tài sản.
+ Rủi ro nghiệp vụlà rủi ro liên quan đến công tác quản lý khoản vay và hoạt động cho vay, bao gồm cả việc sử dụng hệ thống xếp hạng rủi ro và kỹ thuật xử lý các khoản vay có vấn đề. - Rủi ro danh mục:nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quản lý danh mục cho vay của ngân hàng đƣợc phân chia thành rủi ro nội tại và rủi ro tập trung. + Rủi ro nội tại xuất phát từ các yếu tố đặc điểm riêng bên trong của mỗi chủ thể đi vay hoặc ngành, lĩnh vực kinh tế. Nó xuất phát từ đặc điểm hoạt động, sử dụng vốn vay của khách hàng 4 + Rủi ro tập trung: là trƣờng hợp ngân hàng tập trung cho vay quá nhiều đối với một số khách hàng hoạt động trong cùng một ngành nghề, lĩnh vực kinh tế hoặc cùng một vùng địa lý nhất định.
Nguyên nhân phát sinh rủi ro tín dụng ngân hàng - Hoạt động ngân hàng luôn phải đối mặt với nhiều loại rủi ronhƣ rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản, rủi ro lãi suất, rủi ro hối đoái. trong đó rủi ro tín dụng chiếm tỷ trọng lớn nhất. Vì vậy nhận diện những nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng nhằm có biện pháp quản trị rủi ro tín dụng, giảm thiệt hại cho ngân hàng. Có 3 nhóm nguyên nhân cơ bản sau đây: 1.
Nguyên nhân từ phía ngân hàng: - Con người: chất lƣợng cán bộ tín dụng sẽ quyết định trực tiếp đến việc lựa chọn các dự án tốt, các khách hàng tốt. Chính vì thế đòi hỏi cán bộ tín dụng phải có năng lực chuyên môn, am hiểu nhiều lĩnh vực, có khả năng phân tích, dự báo và nhất là phải có đạo đức nghề nghiệp. - Quy trình: mỗi NHTM đều có một quy trình thẩm định cho vay và kiểm tra sau khi cho vay …. Nếu các quy định này không chặt chẽ, tạo ra nhiều sơ hở trong quá trình thực hiện giảm chất lƣợng khoản vay.
Sự phân cấp trách nhiệm cụ thể đến từng bộ phận góp phần góp phần nâng cao hiệu quả giám sát và chất lƣợng thẩm định mang lại lợi nhuận và an toàn cho hoạt động cho vay. - Công nghệ: Song song với việc phát triển dịch vụ, đa dạng hóa các sản phẩm dịch vụ, việc ứng dụng công nghệ kỹ thuật hiện đại trong hoạt động giúp ngân hàng nắm bắt thông tin về khách hàng chính xác hơn, thời gian thẩm định nhanh hơn, khả năng xảy ra rủi ro ít hơn, chất lƣợng hoạt động tín dụng tăng lên. - Công tác quản trị của ban lãnh đạo: Xác định rõ ràng vai trò và trách nhiệm của Ban lãnh đạo và nhân viên trong hoạt động tín dụng và quản lý rủi ro tín dụng là rất cần thiết nhằm đảm bảo: 5 + Những quyết định quan trọng liên quan tới các chiến lƣợc tín dụng, cho điểm tín dụng và quản lý rủi ro tín dụng đƣợc đƣợc đƣa ra một cách thích hợp bởi một tập thể các cá nhân với kinh nghiệm và kiến thức phù hợp. + Những trách nhiệm do Ban giám đốc giao phó đƣợc thực hiện đúng với sự uỷ nhiệm đó.
+ Các cá nhân đƣợc giao những vai trò thích hợp cho phép đảm bảo phân tách nhiệm vụ một cách phù hợp nhằm tạo ra môi trƣờng tín dụng có kiểm soát. Ví dụ, theo các thông lệ tốt nhất thì các chức năng nhƣ i) phân tích/đánh giá tín dụng, ii) quan hệ tín dụng và giám sát tín dụng, và iii) xem xét/kiểm tra tín dụng cần đƣợc tách riêng nhằm đảm bảo sự phân tách nhiệm vụ và tránh xung đột quyền lợi có thể làm giảm chất lƣợng hoạt động tín dụng. Nguyên nhân từ phía khách hàng Là một trong những nguyên nhân chính gây ra rủi ro trong cho vay. Đó cũng là lý do khiến Ngân hàng phải luôn tìm hiểu lịch sử trả nợ vay hay uy tín trong kinh doanh và “tình hình sức khoẻ” của khách hàng trƣớc, trong và sau khi cho vay thì cũng sẽ hạn chế đƣợc rất nhiều rủi ro trong cho vay.
Đối với khách hàng thể nhân: Phần lớn các khoản cho vay cá nhân là nhằm đáp ứng các nhu cầu tiêu dùng của họ. Với những khoản vay này, nguồn trả nợ cho ngân hàng chính là thu nhập đều đặn ổn định của ngƣời vay. Vì vậy bất cứ một nguyên nhân nào gây nên sự mất ổn định về thu nhập và cuộc sống sinh hoạt của ngƣời vay đều có thể dẫn tới việc họ không đảm bảo đƣợc khả năng trả nợ cho ngân hàng. Sau đây là một số nguyên nhân cơ bản: (i) Tình hình sản xuất kinh doanh của khách hàng không ổn định; việc làm bất ổn định dẫn đến thu nhập không ổn định và ảnh hƣởng đến việc trả nợ vay; (ii) Năng lực, trình độ của ngƣời vay còn chƣa cao, chƣa có kinh nghiệm trong việc tổ chức sản xuất, quản lý vốn, kinh doanh.