CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU TỔNG QUAN VỀ TRƯỜNG ĐẠI HỌC BẠC LIÊU VÀ NHẬN DIỆN VẤN ĐỀ 1. Tổng quan về trường Đại học Bạc Liêu 1.1 Giới thiệu chung Trường Đại học Bạc Liêu được thành lập vào năm 2006 theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ, nhằm mục tiêu đào tạo nguồn nhân lực phục vụ cho sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội cho các tỉnh khu vực Bán đảo Cà Mau. Trường Đại học Bạc Liêu thành lập trên cơ sở 02 đơn vị trường Cao đẳng Sư phạm Bạc Liêu và Trung tâm Giáo dục Thường xuyên tỉnh Bạc Liêu. Các nhiệm vụ chính của trường Đại học Bạc Liêu là: - Đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực có trình độ đại học, cao đẳng; - Liên kết đào tạo đại học, sau đại học; - NCKH và chuyển giao công nghệ.
Hiện trường có 02 cơ sở đào tạo, cơ sở 1 đặt tại: số 178 đường Võ Thị Sáu, Phường 8, TP Bạc Liêu, Tỉnh Bạc Liêu và cơ sở 2 tại số 112 đường Lê Duẩn, Phường 1, TP Bạc Liêu, Tỉnh Bạc Liêu. Cơ cấu tổ chức của trường bao gồm 01 hiệu trưởng, 02 hiệu phó, 08 phòng chức năng và 04 khoa đào tạo: khoa Kinh tế, khoa Sư phạm, khoa Công nghệ thông tin và khoa Nông nghiệp. Trường đã được phép đào tạo 13 ngành đại học, 19 ngành cao đẳng chính quy và 03 ngành đại học liên thông với gần 6.000 sinh viên, học viên, ngoài ra trường còn liên kết với Trung tâm Giáo dục thường xuyên tỉnh An Giang, Trung tâm Giáo dục thường xuyên - Kỹ thuật hướng nghiệp tỉnh Đồng Tháp, Trường Trung cấp Bách Nghệ Cần Thơ tuyển sinh đào tạo liên thông các ngành kế toán từ trung cấp lên đại học theo yêu cầu của các địa phương. Qua thời gian hơn 10 năm (2006-2018), Trường Đại học Bạc Liêu đã phát triển ổn định về mọi mặt và tạo được các tiền đề phát triển bền vững để sớm trở thành một cơ sở đào tạo nguồn nhân lực có trình độ đại học, sau đại học, NCKH và chuyển giao công nghệ của khu vực Bán đảo Cà Mau.2 Đặc điểm nhân sự tại trường Đại học Bạc Liêu Tính tới thời điểm tháng 12 năm 2017 giảng viên cơ hữu đang làm việc tại trường là 195 người.
Trong đó Số lượng giảng viên tại các khoa tổ Bảng 1.2: Số lượng giảng viên tại các khoa – trường ĐH Bạc Liêu Khoa/Tổ Số giảng viên Tỷ lệ (%) (người) Khoa công nghệ thông tin 20 10 Khoa Sư phạm 97 50 Khoa Kinh tế 35 18 Khoa nông nghiệp 36 18 Tổ lý luận chính trị 07 4 Tổng 195 100 (Nguồn: Phòng Tổ chức - Cán bộ, 2017) Về tuổi đời bình quân Trong 195 giảng viên cơ hữu tại trường có 49% giảng viên nhóm độ tuổi dưới 35, 32% giảng viên có độ tuổi từ 35 đến dưới 45, và 19% giảng viên nhóm độ tuổi trên 45 tuổi. Dựa vào cơ cấu nhân sự ta thấy số giảng viên trẻ trong trường chiếm một tỷ lệ tương đối lớn. Số giảng viên trẻ chiếm tỷ trọng lớn vì khi trường mới thành lập thì số giảng viên không đủ đáp ứng nhu cầu giảng dạy nên trường đã tiến hành tuyển mới, đa số các giảng viên tuyển mới đều là những sinh viên, học viên mới ra trường đạt học lực từ khá trở lên. Đối với những người trẻ thì ưu điểm lớn nhất là sự nhiệt tình, đam mê trong công việc, sáng tạo trong phương pháp giảng dạy và nghiên cứu khoa học.
Tuy nhiên mức lương của giảng viên trẻ lại tương đối thấp trong khi đó yêu cầu đầu vào cho giảng viên lại tương đối cao. Chính điều này khiến cho những người trẻ giảm bớt tâm huyết đối với nghể.3: Cơ cấu độ tuổi của giảng viên Giới tính Nhóm tuổi Tỷ lệ % Nam Nữ Dưới 35 tuổi 38 57 49 Từ 35 đến dưới 45 tuổi 28 34 32 Trên 45 tuổi 13 25 19 Tổng cộng 79 116 Tỷ lệ % 40,51 59,49 100.00 (Nguồn: Phòng Tổ chức – Cán bộ, 2017) Về trình độ chuyên môn Bảng 1.4: Cơ cấu trình độ của giảng viên Trình độ chuyên môn Số người Tỷ lệ (%) Cử nhân 40 20 Thạc sĩ 142 73 Tiến sĩ 13 7 (Nguồn: Phòng Tổ chức – Cán bộ, 2017) Hiện tại số tiến sĩ trong trường còn chiếm tỷ lệ tương đối thấp là 7%. Có 73% giảng viên trong trường có trình độ thạc sĩ. Và có 20% giảng viên có trình độ cử nhân, đây là đội ngũ cần được đào tạo để đảm bảo đủ tiêu chuẩn dạy các lớp đại học.
Đối tượng này chiếm tỉ lệ lớn bởi vì trong những năm đầu thành lập trường giữ các sinh viên trong trường có kết quả học tập tốt ở lại trường để làm việc. 9 Về thâm niên công tác Bảng 1.5: Thống kê thâm niên công tác của giảng viên Thời gian công tác Số người Tỷ lệ (%) Dưới 03 năm 32 16 Từ 03 đến dưới 05 năm 66 34 Trên 05 năm 97 50 (Nguồn: Phòng Tổ chức – Cán bộ, 2017) Có khoảng 50% giảng viên có thời gian công tác tại trường trên 5 năm. Đây là đội ngũ giảng viên đã gắn bó với trường từ khi trường mới thành lập. Và cũng là đội ngũ giảng viên có nhiều kinh nghiệm trong công tác giảng dạy, đóng vai trò quan trọng trong hoạt động đào tạo của nhà trường 1.3 Đặc điểm công việc của giảng viên Nhiệm vụ chính của giảng viên tại trường bao gồm: - Hoạt động giảng dạy phải đảm bảo đủ 270 tiết/năm học - Thực hiện công tác nghiên cứu khoa học: 01 đề tài/năm học, hoặc viết 02 bài báo (thời gian dành cho hoạt động nghiên cứu khoa học chiếm 1/3 tổng thời gian làm việc trong năm học, tương đương 150 tiết giờ chuẩn) - Tham gia các hoạt động cố vấn học tập, phong trào đoàn, khoa, trường… Thời gian làm việc của giảng viên không giống với những ngành nghề khác, giảng viên không phải có mặt 8h/ngày.
Mà thời gian tương đối linh hoạt, giảng viên chỉ có mặt tại trường khi giảng dạy, coi thi, thao giảng, hội, họp và các hoạt động khác. Điều này không phải là công việc và thời gian làm việc của giảng viên ít. Mà thực tế ngoài thời gian dành cho các hoạt động trên thì các giảng viên phải thực hiện nhiều việc như nghiên cứu khoa học, soạn bài, nghiên cứu tài liệu, chấm bài, hướng dẫn sinh viên làm khóa luận, chuyên đề… Do đó thời gian làm việc thực tế của giảng viên tương đối nhiều. 10 Đối với việc phân công chuyên môn: Mỗi một giảng viên phải đảm trách ít nhất 02 môn học, có giảng viên phải đảm trách 3, hoặc 4 môn.
Tùy vào tình hình thực tế tại khoa để phân công.2 Nhận diện vấn đề tại trường Đại học Bạc Liêu 1.1 Những dấu hiệu của vấn đề Theo số liệu của phòng tổ chức cán bộ (năm 2017) của trường cho thấy những năm gần đây số lượng giảng viên xin nghỉ việc tại trường đang có xu hướng gia tăng, cụ thể năm 2015 tỉ lệ nghỉ việc của giảng viên là 6%, tới năm 2016 tỉ lệ nghỉ việc là 9%, nhưng tới năm 2017 con số nghỉ việc là 12%. Tình trạng các giảng viên xin nghỉ việc đã gây ra những biến động ảnh hưởng tới hoạt động quản lý của trường. Trong thời gian chờ người thay thế thì các giảng viên còn lại phải đảm nhận công việc còn thiếu người, việc phân công chuyên môn cho các giảng viên có sự thay đổi liên tục đã tạo ra áp lực cho các giảng viên còn lại. Mặt khác công việc giảng dạy đòi hỏi phải có kiến thức chuyên sâu về lĩnh vực đảm nhiệm do đó rất khó tìm người thay thế thích hợp.
Ban giám hiệu nhà trường cũng rất lo lắng nếu như tình trạng này vẫn kéo dài sẽ ảnh hưởng rất lớn tới chất lượng đào tạo cũng như hoạt động của trường. Ngoài ra tác giả có tiến hành phỏng vấn 03 giảng viên đã nghỉ việc để tìm hiểu nguyên nhân: Cô Trần Tuyết Mai, giảng viên khoa Kinh tế, tiết lộ nguyên nhân nghỉ việc: “Có nhiều lý do mà tôi quyết định nghỉ việc tại trường có lẽ lý do quan trọng nhất là lương thưởng, trong 02 năm làm việc tại đây mức lương của tôi chưa tới 4 triệu đồng/tháng, trong khi đó đầu vào yêu cầu đối với giảng viên tương đối cao, tôi đồng ý rằng lương trường không thể trả khác hơn vì nó phải tính theo quy định của nhà nước, tuy nhiên việc trả thu nhập tăng thêm thì trường là người quyết định, nhưng việc trả này lại không căn cứ vào kết quả công việc, do đó dẫn đến tình trạng người dạy đủ tiết chuẩn với người dạy không đủ tiết chuẩn không có sự chênh lệch, thậm chí nếu người dạy không đủ tiết chuẩn mà có thời gian công tác lâu có khi thu nhập lại cao hơn so với người dạy đủ. Ngoài mức lương thấp ra tôi 11 còn phải học nâng cao trình độ, trong khi chính sách hỗ trợ cho giảng viên đi học còn rất thấp, với mức hỗ trợ như vậy thì tôi phải xin thêm tiền gia đình để đi học. Do đó nghỉ việc đối với tôi là quyết định hợp lý” Cô Nguyễn Thanh Hằng, giảng viên khoa Kinh tế cho rằng: “Khối lượng công việc nhiều, ngoài công việc giảng dạy giảng viên còn làm nhiều việc không tên khác trong khi đó lương thì thấp, và không sát với kết quả công việc.
Với mức thu nhập như vậy tôi phải rất tiết kiệm mới đủ khả năng chi tiêu cho gia đình. Mặt khác khi làm việc tại đây tôi nhận thấy cơ hội để phát triển cho bản thân dường như không có” Thầy Trần Quốc Bảo, giảng viên khoa sư phạm cho rằng lý do nghỉ việc của thầy như sau: “Tôi đã làm việc tại trường là 06 năm, trong khi đó tổng thu nhập hàng tháng của tôi nằm trong ngưỡng hơn 4 triệu, nếu tôi sống một mình thì có lẽ sẽ đủ, nhưng tôi còn lo cho gia đình của mình nữa. Đối với nam giới thì vai trò là trụ cột trong gia đình tôi phải lo được cho vợ con, tuy nhiên với thu nhập như vậy thì tôi không thể lo được. Ngoài ra khi làm việc tại trường tôi không biết bản thân mình cần có những tiêu chuẩn nào để thăng tiến mặt khác tôi lại thấy cơ hội thăng tiến của mình tại đây quá ít”.
Từ kết quả phỏng vấn 03 giảng viên đã nghỉ việc cho thấy nguyên nhân nghỉ việc của các giảng viên xuất phát yếu tố thu nhập, cơ hội thăng tiến, chính sách đào tạo. Theo nghiên cứu của Mathieu & Zajac (1990), Mowday và cộng sự (1982) chỉ ra rằng giữa cam kết tổ chức và tỉ lệ nghỉ việc có mối liên hệ mật thiết với nhau.