Tổng quan nghiên cứu

Khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) giữ vị trí đặc biệt quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam khi chiếm hơn 97% tổng số doanh nghiệp đăng ký và đóng góp trên 40% vào quy mô tổng sản phẩm quốc nội. Tại Thành phố Hồ Chí Minh – đầu tàu kinh tế của Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, khu vực kinh tế ngoài nhà nước với hơn 90% là các DNNVV đã đóng góp tới 49,3% vào tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP). Tuy nhiên, sau tác động của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, tốc độ tăng trưởng kinh tế cả nước sụt giảm từ mức 8,44% năm 2007 xuống 6,18% năm 2008 và chỉ còn 5,32% năm 2009. Bối cảnh này đặt các DNNVV tại Thành phố Hồ Chí Minh trước thách thức nghiêm trọng về áp lực chi phí, sự suy giảm sức mua và đặc biệt là tình trạng khan hiếm nguồn vốn kinh doanh.

Mục tiêu cốt lõi của nghiên cứu là hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản trị tài chính và chính sách hỗ trợ DNNVV, phân tích thực trạng huy động vốn qua các kênh tín dụng ngân hàng, thuê tài chính và quỹ bảo lãnh tín dụng trên địa bàn thành phố giai đoạn 2000 đến tháng 6 năm 2010. Từ việc nhận diện các điểm nghẽn về tài sản thế chấp và hạn chế trong chính sách hỗ trợ, tác giả xây dựng hệ thống giải pháp tài chính đồng bộ nhằm giải phóng năng lực cạnh tranh cho khối doanh nghiệp này. Kết quả nghiên cứu mang lại giá trị thực tiễn to lớn cho hệ thống 39 ngân hàng thương mại cổ phần và 13 công ty cho thuê tài chính tại Thành phố Hồ Chí Minh trong việc định hình cơ chế cấp vốn an toàn, hiệu quả.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng Lý thuyết trật tự phân hạng (Pecking Order Theory) kết hợp với Lý thuyết bất đối xứng thông tin (Asymmetric Information Theory) của Stiglitz và Weiss để luận giải hành vi tìm kiếm nguồn tài trợ của doanh nghiệp. Theo các mô hình này, doanh nghiệp thường ưu tiên sử dụng vốn tự có trước khi tìm đến các khoản nợ vay và phát hành vốn cổ phần. Sự bất cân xứng thông tin giữa bên cấp vốn và người đi vay dẫn đến hiện tượng lựa chọn đối nghịch và rủi ro đạo đức, buộc các ngân hàng phải áp dụng biện pháp thắt chặt điều kiện tài sản bảo đảm.

Về mặt pháp lý và khái niệm, nghiên cứu bám sát định nghĩa phân loại theo Nghị định 90/2001/NĐ-CP và Nghị định 56/2009/NĐ-CP của Chính phủ. DNNVV được phân định thành ba cấp bậc gồm siêu nhỏ (dưới 10 lao động), nhỏ (tổng nguồn vốn dưới 20 tỷ đồng hoặc từ 10 đến 200 lao động tùy ngành) và vừa (nguồn vốn từ 20 đến 100 tỷ đồng hoặc từ 50 đến 300 lao động). Ba chức năng tài chính nòng cốt gồm tổ chức huy động và luân chuyển vốn, phân phối thu nhập bằng tiền, cùng hoạt động kiểm tra giám sát tài chính được xem xét trong mối tương quan với các công cụ điều tiết vĩ mô như thuế suất thu nhập doanh nghiệp 25% và các gói hỗ trợ lãi suất.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp duy vật biện chứng kết hợp chặt chẽ giữa thống kê mô tả, phân tích tổng hợp, quy nạp, diễn dịch và so sánh dữ liệu chuỗi thời gian giai đoạn 10 năm từ năm 2000 đến giữa năm 2010. Dữ liệu thứ cấp được trích xuất từ nguồn chính thống của Tổng cục Thống kê, Cục Thống kê Thành phố Hồ Chí Minh, Ngân hàng Nhà nước Chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minh và Sở Kế hoạch và Đầu tư.

Bên cạnh đó, nghiên cứu tiến hành khảo sát thực nghiệm trên mẫu nghiên cứu gồm 150 doanh nghiệp nhỏ và vừa thuộc nhiều ngành nghề sản xuất, thương mại, dịch vụ tại 19 quận và 5 huyện trực thuộc thành phố. Phương pháp chọn mẫu định ngạch kết hợp ngẫu nhiên thuận tiện được áp dụng nhằm thu thập thông tin đa chiều về khả năng tiếp cận vốn, rào cản thủ tục và nhu cầu hỗ trợ lãi suất. Phương pháp phân tích định lượng kết hợp định tính được lựa chọn vì giúp bóc tách chính xác tác động của gói kích cầu 145,6 nghìn tỷ đồng của Chính phủ đến sức sống doanh nghiệp thực tế.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, DNNVV giữ vai trò động lực chính thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của Thành phố Hồ Chí Minh. Doanh thu thương mại bán lẻ và dịch vụ của khu vực kinh tế ngoài nhà nước chiếm tỷ trọng áp đảo, đạt 73,84% năm 2008, tăng lên 78,53% năm 2009 và giữ mức 75,6% trong 6 tháng đầu năm 2010. Về xuất khẩu phi dầu thô, khối doanh nghiệp này có bước tiến mạnh mẽ, nâng tỷ trọng đóng góp từ 33,97% năm 2008 lên 39,42% vào nửa đầu năm 2010.

Thứ hai, đóng góp vượt bậc vào việc duy trì an sinh xã hội và thị trường lao động. Khu vực ngoài nhà nước giải quyết việc làm mới cho 120,4 nghìn lao động năm 2008 và 124,9 nghìn lao động năm 2009, giúp tỷ lệ thất nghiệp tại thành phố giảm từ 5,4% xuống 5,3% trong bối cảnh áp lực tăng dân số cơ học chiếm tới 2/3 tổng mức gia tăng dân số hàng năm.

Thứ ba, sự mất cân đối nghiêm trọng trong cấu trúc nguồn vốn doanh nghiệp. Hơn 70% DNNVV trên địa bàn vẫn phải phụ thuộc vào nguồn vốn tự có hạn hẹp và tín dụng thương mại chiếm dụng ngắn hạn. Dù thành phố có 39 ngân hàng thương mại cổ phần và 48 chi nhánh ngân hàng nước ngoài, đa số doanh nghiệp không thể tiếp cận tín dụng trung dài hạn do thiếu tài sản bảo đảm.

Thứ tư, hiệu quả hoạt động của các kênh tài chính bổ trợ còn rất khiêm tốn. Khối 13 công ty cho thuê tài chính chỉ đáp ứng dưới 5% tổng nhu cầu vốn đầu tư thiết bị. Quỹ bảo lãnh tín dụng Thành phố Hồ Chí Minh thành lập từ năm 2006 theo Quyết định 36/2006/QĐ-UBND chưa phát huy được vai trò đòn bẩy do nguồn vốn điều lệ còn mỏng và ràng buộc điều kiện khắt khe.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân căn bản của thực trạng trên bắt nguồn từ rào cản thông tin và năng lực nội tại. Đa số lãnh đạo DNNVV xuất thân kỹ thuật hoặc kinh doanh tự do, thiếu kiến thức quản trị dòng tiền chuyên sâu; khoảng 80% doanh nghiệp chưa lập báo cáo tài chính được kiểm toán độc lập. Điều này tạo tâm lý e ngại rủi ro nợ xấu từ phía các tổ chức tín dụng.

Khi đối chiếu với kinh nghiệm quốc tế, Trung Quốc đã giải quyết bài toán này nhờ xây dựng mạng lưới 4.347 tổ chức bảo lãnh tài chính và thành lập quỹ tiền tệ chuyên biệt 2,5 tỷ nhân dân tệ để hỗ trợ doanh nghiệp vay vốn gấp 3 đến 5 lần tài sản. Tương tự, Nhật Bản thúc đẩy các khoản vay dựa trên thẩm định tính khả thi của phương án kinh doanh và quyền sở hữu trí tuệ thông qua 3 định chế tài chính nhà nước chuyên trách. Dữ liệu nghiên cứu tại Thành phố Hồ Chí Minh khi được tổng hợp qua bảng biểu chuỗi thời gian 2001 - 2010 đã minh chứng rõ rệt xu hướng chuyển dịch: tỷ trọng đóng góp GRDP của kinh tế ngoài nhà nước tăng từ 37,1% năm 2002 lên 49,3% năm 2010, đòi hỏi phải có một cơ chế tài chính tương xứng để giải phóng tiềm năng này.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, mở rộng quy mô và tái cơ cấu quy trình cấp tín dụng ngân hàng. Các tổ chức tín dụng cần chuyển dịch phương thức thẩm định từ phụ thuộc tài sản thế chấp sang đánh giá dòng tiền dự án kinh doanh khả thi và hợp đồng đầu ra. Ngân hàng Nhà nước Chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minh cần điều phối dòng vốn ưu đãi, đặt mục tiêu nâng tốc độ tăng trưởng dư nợ cho vay DNNVV đạt 15% đến 20%/năm trong giai đoạn 2011 - 2015.

Thứ hai, phát triển mạnh mẽ kênh cho thuê tài chính để hiện đại hóa công nghệ. 13 công ty cho thuê tài chính trên địa bàn cần chủ động phối hợp với các hiệp hội ngành nghề giới thiệu dịch vụ thuê mua máy móc trực tiếp, giúp doanh nghiệp vượt qua rào cản chi phí đầu tư ban đầu, hướng tới mục tiêu nâng tỷ lệ đổi mới thiết bị của thành phố từ mức 5% - 7%/năm lên tiệm cận mức 15%/năm trước năm 2015.

Thứ ba, đổi mới toàn diện mô hình Quỹ bảo lãnh tín dụng Thành phố Hồ Chí Minh. Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh cần xem xét nâng quy mô vốn điều lệ của quỹ lên mức 500 tỷ đồng từ nguồn ngân sách và xã hội hóa, đồng thời rút ngắn thời gian thẩm định cấp bảo lãnh xuống dưới 7 ngày làm việc kể từ quý 2 năm 2011.

Thứ tư, chuẩn hóa năng lực quản trị tài chính doanh nghiệp. Sở Kế hoạch và Đầu tư cùng Trung tâm Hỗ trợ kỹ thuật DNNVV cần triển khai chương trình đào tạo quản trị tài chính, lập hồ sơ vay vốn và kế toán minh bạch cho ít nhất 10.000 lượt lãnh đạo doanh nghiệp trong lộ trình 2011 - 2013.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm thứ nhất là ban giám đốc và các nhà quản lý doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Thành phố Hồ Chí Minh. Nghiên cứu cung cấp góc nhìn thực tiễn về cấu trúc chi phí, phương thức quản lý vốn lưu động và cẩm nang tiếp cận các kênh tài trợ ngoài ngân hàng như thuê tài chính hoặc bảo lãnh tín dụng.

Nhóm thứ hai là các nhà quản trị rủi ro và chuyên viên tín dụng tại 39 ngân hàng thương mại cổ phần cùng các công ty tài chính. Luận văn giúp phân tích đặc thù luân chuyển dòng tiền của khối doanh nghiệp vừa và nhỏ, từ đó thiết kế các gói sản phẩm tín chấp linh hoạt nhưng vẫn kiểm soát tốt tỷ lệ nợ xấu dưới ngưỡng an toàn 3%.

Nhóm thứ ba là các cơ quan quản lý nhà nước như Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, Sở Tài chính và Ngân hàng Nhà nước. Nội dung nghiên cứu mang đến nguồn dữ liệu thực chứng hữu ích phục vụ công tác hoạch định chính sách ưu đãi thuế và cơ chế kích cầu đầu tư.

Nhóm thứ tư là giảng viên, học viên cao học và sinh viên các chuyên ngành Kinh tế, Tài chính - Ngân hàng, Quản trị kinh doanh cần nguồn tài liệu học thuật chuyên sâu với chuỗi số liệu kinh tế vĩ mô 10 năm tại đô thị lớn nhất cả nước.

Câu hỏi thường gặp

Doanh nghiệp nhỏ và vừa được định nghĩa như thế nào theo khuôn khổ nghiên cứu? Theo quy định tại Nghị định 56/2009/NĐ-CP, doanh nghiệp nhỏ và vừa được chia làm ba cấp độ: siêu nhỏ có dưới 10 lao động; quy mô nhỏ có vốn dưới 20 tỷ đồng hoặc dưới 200 lao động; quy mô vừa có vốn từ 20 đến 100 tỷ đồng hoặc từ 50 đến 300 lao động tùy thuộc vào từng ngành nghề cụ thể.

Tại sao phần lớn DNNVV tại Thành phố Hồ Chí Minh gặp trở ngại khi vay vốn ngân hàng? Hơn 70% doanh nghiệp gặp vướng mắc do không có đủ bất động sản để thế chấp theo yêu cầu tín dụng truyền thống. Bên cạnh đó, hệ thống sổ sách kế toán chưa chuẩn hóa và báo cáo tài chính thiếu tính minh bạch khiến các ngân hàng gặp khó khăn trong việc định lượng mức độ rủi ro.

Kênh cho thuê tài chính đem lại lợi ích nổi bật nào cho doanh nghiệp? Cho thuê tài chính cho phép doanh nghiệp đưa máy móc thiết bị hiện đại vào sản xuất mà không cần thế chấp tài sản cố định khác. Chi phí thuê được tính vào chi phí hợp lý giúp tối ưu hóa nghĩa vụ thuế thu nhập doanh nghiệp 25% và giảm thiểu rủi ro công nghệ lạc hậu.

Chương trình hỗ trợ lãi suất 4% năm 2009 đã mang lại kết quả cụ thể ra sao? Theo số liệu tổng kết đến ngày 31/12/2009, các tổ chức tín dụng tại Thành phố Hồ Chí Minh đã giải ngân khoảng 84.000 tỷ đồng vốn hỗ trợ lãi suất ngắn hạn, giúp hàng nghìn doanh nghiệp giảm mạnh chi phí sản xuất, hạ giá thành sản phẩm và bảo đảm việc làm cho người lao động trong thời kỳ khủng hoảng.

Bài học bảo lãnh tín dụng từ Trung Quốc có thể vận dụng tại Việt Nam như thế nào? Thành phố Hồ Chí Minh có thể áp dụng mô hình của Trung Quốc với 4.347 tổ chức bảo lãnh tài chính, trích một phần thuế thu nhập doanh nghiệp để lập quỹ bù đắp rủi ro và cho phép bảo lãnh vốn vay gấp 3 đến 5 lần giá trị tài sản đối với các dự án kinh doanh khả thi.

Kết luận

  • Khu vực kinh tế ngoài nhà nước với hơn 90% là doanh nghiệp nhỏ và vừa giữ vai trò đầu tàu, đóng góp 49,3% vào cơ cấu GRDP của Thành phố Hồ Chí Minh.
  • Doanh nghiệp đối mặt với bài toán nan giải về vốn do hơn 70% đơn vị không đáp ứng được yêu cầu tài sản thế chấp nghiêm ngặt từ ngân hàng.
  • Các công cụ bổ trợ như 13 công ty cho thuê tài chính và Quỹ bảo lãnh tín dụng thành phố hoạt động chưa tương xứng với nhu cầu thực tế của thị trường.
  • Luận văn đóng góp hệ thống 4 nhóm giải pháp tài chính toàn diện nhằm khơi thông dòng vốn tín dụng, đẩy mạnh thuê tài chính và chuẩn hóa năng trị quản trị.
  • Kế hoạch hành động đòi hỏi các cơ quan ban ngành triển khai tái cơ cấu quỹ bảo lãnh trong năm 2011 và số hóa quy trình thẩm định cho vay giai đoạn 2012 - 2015.

Các hiệp hội doanh nghiệp, hệ thống ngân hàng thương mại và cơ quan quản lý hãy cùng bắt tay hành động để hiện thực hóa những giải pháp tài chính này, tạo nền tảng vững chắc cho sự cất cánh của doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Thành phố Hồ Chí Minh.