CHƯƠNG 1 VẤN ĐỀ HỖ TRỢ TÀI CHÍNH ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA 1.1 Khái quát về doanh nghiệp nhỏ và vừa 1.1 Tiêu chí xác định DNNVV DNNVV được phân loại theo qui mô; trên thế giới, tiêu thức xác định DNNVV thường là căn cứ vào: vốn, lao động, doanh thu. Trên căn cứ này, có quốc gia chỉ dùng một tiêu chí nhưng cũng có quốc gia dùng vài tiêu chí để xác định DNNVV, đồng thời, một số nước áp dụng tiêu chí chung cho tất cả các ngành nhưng cũng có nước lại dùng tiêu chí riêng để xác định DNNVV trong từng ngành. Các tiêu chí này không cố định, chúng phụ thuộc vào chính sách và khả năng hỗ trợ của mỗi chính phủ trong từng thời kỳ, thậm chí trong cùng một nước cũng có trường hợp các tổ chức hỗ trợ có tiêu chí riêng để xác định doanh nghiệp đủ điều kiện nhận hỗ trợ. Từ đó, khái niệm DNNVV chỉ mang tính tương đối: các tiêu chí xác định DNNVV tùy thuộc các nhà nghiên cứu và các quốc gia khác nhau.
Song theo Ủy ban Bolton (1971), ba đặc điểm hình thành định nghĩa kinh tế của một doanh nghiệp nhỏ là: - Một doanh nghiệp nhỏ là một doanh nghiệp có thị phần tương đối nhỏ. - Doanh nghiệp này do chính những chủ doanh nghiệp hoặc những người hùn vốn quản lý theo phương cách riêng và không thông qua một tầng nấc trung gian. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 - Doanh nghiệp nhỏ có tính độc lập, nghĩa là doanh nghiệp không phải là một bộ phận của doanh nghiệp lớn hơn, do đó người quản lý kiêm chủ doanh nghiệp tự do để ra những quyết định quan trọng. Một số tiêu chí xác định DNNVV ở một số nước như sau: Bảng 1.1: Tiêu chí xác định DNNVV ở một số quốc gia Tổng vốn hoặc Quốc gia Số lao động(người) Doanh thu giá trị tài sản Úc < 500 (trong CN, DV) < 20 triệu đô Canada < 500 (trong CN, DV) la Canada < 100 (trong CN) Hong Kong < 100 (trong DV) Indonexia < 100 < 0,6 tỷ Rupiah < 2 tỷ Rupiah < 100 (trong BB) < 30 triệu Yên Nhật < 50 (trong BL) < 10 triệu Yên < 300 (trong các ngành khác) < 100 triệu Yên Mexico < 250 < 7 triệu USD Philippines < 200 < 100 triệu Peso Singapore < 100 < 499 triệu USD Thái Lan < 100 < 20 triệu Baht Mỹ < 500 (Nguồn: Dẫn theo kỷ yếu khoa học: Dự án chính sách hỗ trợ DNVVN ở Việt Nam, viện Friedrich Ebert CHLB Đức, 1999.) LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 Ở Việt Nam, các địa phương, các ngành, các tổ chức có cách xác định DNNVV khác nhau như sau : - Phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam (VCCI) xác định: + Đối với ngành công nghiệp: những doanh nghiệp có vốn từ 5 – 10 tỷ đồng và số lao động trung bình hàng năm từ 200 – 500 người là doanh nghiệp vừa, doanh nghiệp có vốn dưới 5 tỷ đồng và số lao động trung bình dưới 200 người là doanh nghiệp nhỏ.
+ Đối với ngành thương mại: những doanh nghiệp có vốn từ 5 – 10 tỷ đồng và số lao động trung bình hàng năm từ 10 – 100 người là doanh nghiệp vừa, doanh nghiệp có vốn dưới 5 tỷ đồng và lao động trung bình dưới 50 người là doanh nghiệp nhỏ. - Trung tâm phát triển ngoại thương và đầu tư (FTDC) căn cứ vào dự án của Liên Hiệp Quốc nghiên cứu về DNNVV ở Việt Nam xác định: doanh nghiệp vừa là những doanh nghiệp có quy mô vốn từ 1 tỷ đến 4 tỷ đồng và có công nhân từ 30 đến 200 người, doanh nghiệp nhỏ là doanh nghiệp có quy mô vốn dưới 1 tỷ đồng và số công nhân dưới 30 người. - Ngân hàng Công thương Việt Nam xác định DNNVV là những doanh nghiệp có số lao động thường xuyên dưới 50 người, vốn cố định dưới 10 tỷ đồng, vốn lưu động dưới 8 tỷ đồng và doanh thu hàng năm dưới 20 tỷ đồng. - Theo công văn số 681/CP-KTN ngày 20/6/1998 của Văn phòng Chính phủ, DNNVV là những doanh nghiệp có vốn điều lệ dưới 5 tỷ đồng và có số lao động trung bình hàng năm dưới 200 người.
- Ngày 23/11/2001, Chính phủ ban hành Nghị định 90/2001/NĐ-CP về trợ giúp phát triển DNNVV, định nghĩa DNNVV là cơ sở sản xuất kinh doanh độc lập, đã đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình hàng năm không quá 300 người. Tuy nhiên, căn cứ tình hình kinh tế - xã hội cụ thể ở từng địa phương, căn cứ vào các lĩnh vực, ngành nghề khác nhau mà địa phương có thể linh hoạt áp dụng đồng thời cả 2 tiêu chí vốn và lao động hoặc một trong hai tiêu chí trên cho phù hợp vì hai tiêu chí trên thường không luôn luôn tương thích với nhau, nhất là trong điều kiện hiện nay có những doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực công nghệ cao, có số vốn hoặc doanh thu khá lớn nhưng số lao động lại rất ít vì đó là những lao động có chuyên môn kỹ thuật cao. Từ đó, theo tác giả luận văn, qua kinh nghiệm của nhiều nước trên thế giới, nên có tiêu chí riêng để xác định DNNVV hoạt động trong các lĩnh vực khác nhau (công nghiệp, thương mại, dịch vụ,…) đồng thời, cần điều chỉnh các tiêu chí này qua từng thời kỳ theo sự phát triển kinh tế của đất nước và chủ trương khuyến khích phát triển DNNVV của chính phủ.2 Vai trò của DNNVV trong nền kinh tế thị trường: DNNVV có vai trò quan trọng trong nền kinh tế các nước đang phát triển. Ở nước ta, theo Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), đến năm 2007, VN có khoảng 300.000 doanh nghiệp, trong số đó có đến 95% là DNNVV với các hình thức: DN nhà nước, DN tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần…; từ đó , DNNVV đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong nền kinh tế nước ta.
Nhìn chung, vai trò của DNNVV trong nền kinh tế thị trường thể hiện ở các mặt sau: LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 - Tạo việc làm cho người lao động, góp phần ổn định xã hội: Đây là thế mạnh rõ rệt của DNNVV và là nguyên nhân chủ yếu khiến ta phải đặc biệt quan tâm chú trọng phát triển DNNVV ở nước ta hiện nay. Giải quyết công ăn việc làm luôn là vấn đề bức xúc của hầu hết các nước trên thế giới. Phát triển DNNVV là một giải pháp hữu hiệu giải quyết vấn đề thất nghiệp. Lý do đơn giản là DNNVV thường được dễ dàng tạo lập với một lượng vốn không lớn và thường xuyên đáp ứng được những thay đổi của thị trường.
Vì vậy, mặc dù số lượng lao động trong một DNNVV không nhiều nhưng theo quy luật số đông, một số lượng lớn DNNVV trong nền kinh tế sẽ tạo ra phần lớn công ăn việc làm cho xã hội. Khu vực DNNVV thuộc các thành phần kinh tế hiện thu hút khoảng 25-26% lực lượng lao động phi nông nghiệp cả nước nhưng triển vọng thu hút thêm lao động rất lớn vì suất đầu tư cho mỗi chỗ làm việc ở đây thấp hơn rất nhiều so với doanh nghiệp lớn, chủ yếu là do chi phí thấp và thu hút được các nguồn vốn rải rác trong dân, là nơi có nhiều thuận lợi nhất để tiếp nhận số lao động ở nông thôn tăng thêm mỗi năm, số lao động từ các DNNVV dôi ra qua việc cổ phần hóa, bán, khoán, cho thuê,… - DNNVV cung cấp một khối lượng lớn, đa dạng, phong phú về sản phẩm, đóng góp vào sự tăng trưởng kinh tế: Với số lượng đông đảo trong nền kinh tế, DNNVV tạo ra một khối lượng sản phẩm đáng kể cho xã hội. Mặt khác, do đặc tính linh hoạt, mềm dẻo, DNNVV có khả năng đáp ứng những nhu cầu ngày càng đa dạng, phong phú và độc đáo của người tiêu dùng, đặc biệt là những sản phẩm có tính chất linh tinh, lặt vặt không thích hợp với các doanh nghiệp lớn. Ở Việt Nam, mỗi năm DNNVV đóng góp khoảng 26% GDP của cả nước.
Trong lĩnh vực sản xuất công nghiệp, khu vực DNNVV đóng góp ước LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 tính 30% giá trị tổng sản lượng công nghiệp hàng năm. Một số ngành nghề như chiếu cói, hàng thủ công mỹ nghệ…DNNVV tạo ra 100% giá trị sản lượng hàng hóa. - DNNVV góp phần khai thác tiềm năng phong phú trong dân: Dựa trên những ưu thế của DNNVV như thành lập với số vốn ít, thu hồi vốn nhanh, sử dụng các tiềm năng về nguồn vốn lao động và nguyên vật liệu sẵn có ở địa phương, sử dụng các sản phẩm phụ hoặc phế phẩm, phế liệu của các doanh nghiệp lớn, DNNVV thu hút được một khối lượng lớn về vốn nhàn rỗi của các tầng lớp dân cư, đồng thời thu hút được nhiều lao động vào tham gia sản xuất mà không đòi hỏi trình độ cao hay mất nhiều thời gian đào tạo. Ngoài ra, DNNVV có nhiều thuận lợi trong khai thác các tiềm năng về trí tuệ, tay nghề tinh xảo, bí quyết nghề nghiệp,…Việc phát triển các doanh nghiệp sản xuất các ngành nghề truyền thống ở nông thôn là một trong những hướng quan trọng để sử dụng tay nghề của các nghệ nhân hiện nay đang bị mai một dần, nhằm thu hút lao động nông thôn và phát huy lợi thế của từng vùng để phát triển kinh tế.
- Bảo đảm cho nền kinh tế năng động hơn: Do yêu cầu vốn ít, qui mô nhỏ, DNNVV có nhiều khả năng thay đổi mặt hàng, chuyển nhượng sản xuất, đổi mới công nghệ,…Đối với doanh nghiệp lớn, DNNVV còn có thể làm đại lý, vệ tinh tiêu thụ hàng hóa hoặc cung cấp vật tư đầu vào với giá rẻ hơn, góp phần hạ giá thành, nâng cao hiệu quả sản xuất cho doanh nghiệp lớn. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 - Góp phần vào sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa: Ở các nước cũng như ở Việt Nam, các doanh nghiệp lớn thường tập trung ở các thành phố và các trung tâm công nghiệp, nơi có cơ sở hạ tầng phát triển nhưng lại không đáp ứng được tất cả yêu cầu của nền kinh tế như lưu thông hàng hóa, dịch vụ, phát triển ngành nghề truyền thống, tiểu thủ công nghiệp, giải quyết lao động,…gây mất trạng thái cân đối nghiêm trọng về trình độ phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội giữa thành thị với nông thôn, giữa các vùng trong một quốc gia. Chính sự phát triển DNNVV là phương tiện quan trọng trong việc tạo lập sự cân đối giữa các vùng.