CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ TÁI CẤU TRÚC TÀI CHÍNH TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Cấu trúc tài chính 1. Khái niệm Cấu trúc tài chính của doanh nghiệp là sự kết hợp giữa cấu trúc vốn và nợ ngắn hạn để đầu tư vào tài sản doanh nghiệp. Cấu trúc vốn của doanh nghiệp là sự kết hợp giữa nợ trung hạn, nợ dài hạn và vốn cổ phần để đầu tư vào tài sản.
Cấu trúc vốn = nợ trung hạn, nợ dài hạn + vốn chủ sở hữu. Cấu trúc tài chính = nợ ngắn hạn + nợ trung hạn, nợ dài hạn + vốn chủ sở hữu. Thành phần cấu trúc tài chính của một doanh nghiệp Cấu trúc tài chính bao gồm: nợ (nợ ngắn hạn, nợ trung hạn, nợ dài hạn) và vốn chủ sở hữu (vốn cổ phần và lợi nhuận giữ lại). Nợ: Bao gồm nợ ngắn hạn, nợ trung hạn, nợ dài hạn - Nợ ngắn hạn: Nợ ngắn hạn là các khoản nợ có thời hạn dưới 1 năm.
Đây là các khoản nợ tài trợ cho tài sản lưu động của doanh nghiệp. - Nợ trung hạn: Nợ trung hạn là các khoản nợ có thời hạn trên 1 năm đến 5 năm, dùng để tài trợ tài sản cố định của doanh nghiệp như đầu tư máy móc, thiết bị … - Nợ dài hạn: Nợ dài hạn là các khoản nợ có thời hạn trên 5 năm, dùng để tài trợ tài sản cố định của doanh nghiệp như đầu tư các dự án. Vốn chủ sở hữu Là phần vốn góp của các chủ sở hữu khi mới thành lập và phần vốn góp thêm của các chủ sở hữu để đầu tư cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Đây là nguồn vốn ổn định, các chủ sở hữu chỉ có thể thu hồi nguồn vốn này khi nhượng bán cho người khác hoặc khi phá sản doanh nghiệp.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com -2- Đối với ngân hàng, vốn chủ sở hữu chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn vốn nhưng giữ vai trò rất quan trọng: - Quyết định quy mô hoạt động của ngân hàng. - Là cơ sở xác định các tỷ lệ an toàn trong kinh doanh, tỷ lệ cho vay đối với khách hàng (theo Luật các TCTD 47/2010/QH12 thì tổng dư nợ cho vay một khách hàng của một TCTD không được phép vượt quá 15% vốn tự có của TCTD đó, tổng dư nợ cho vay một nhóm khách hàng liên quan của một TCTD không vượt quá 25% vốn tự có của TCTD đó). Vốn chủ sở hữu chủ yếu bao gồm: vốn cổ phần thường, vốn cổ phần ưu đãi, lợi nhuận giữ lại. - Vốn cổ phần thường: là mệnh giá của tổng số cổ phần thường hiện hành, được hình thành khi doanh nghiệp phát hành cổ phiếu thường.
Cổ tức của cổ phiếu này cao hay thấp phụ thuộc vào kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Những người nắm giữ cổ phiếu thường được quyền kiểm soát, quản lý, điều hành hoạt động của doanh nghiệp. - Vốn cổ phần ưu đãi: là mệnh giá của tổng số cổ phiếu ưu đãi hiện hành và được hình thành khi doanh nghiệp phát hành cổ phiếu ưu đãi. Cổ tức của cổ phiếu này không phụ thuộc vào kết quả hoạt động kinh doanh mà được ấn định bằng một tỷ lệ cố định tính trên mệnh giá của cổ phiếu.
Những người nắm giữ cổ phiếu ưu đãi không có quyền kiểm soát, quản lý, điều hành hoạt động của doanh nghiệp. - Lợi nhuận giữ lại: Lợi nhuận giữ lại là phần thu nhập ròng của doanh nghiệp có được từ hoạt động kinh doanh nhưng không chia cho các cổ đông mà được giữ lại để tiếp tục đầu tư cho hoạt động kinh doanh. Lợi nhuận giữ lại nhiều hay ít phụ thuộc vào kết quả hoạt động kinh doanh, kế hoạch kinh doanh, chính sách phân chia lợi nhuận của doanh nghiệp. Đây là nguồn vốn rất quan trọng đối với các doanh nghiệp đang ở giai đoạn tăng trưởng, cần nhiều nguồn vốn để đẩy mạnh hoạt động kinh doanh.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Đặc điểm phân biệt giữa nợ và vốn cổ phần trong cấu trúc tài chính Doanh nghiệp có thể lựa chọn nợ hay vốn cổ phần, hay cả nợ và vốn cổ phần, lựa chọn tỷ trọng của từng loại để xây dựng cấu trúc tài chính phù hợp với doanh nghiệp trong từng thời kỳ. Nợ và vốn cổ phần có các đặc điểm phân biệt sau: - Tính đáo hạn: Nợ có tính đáo hạn, nợ phải được hoàn trả sau một thời gian nhất định, thời gian đáo hạn tùy thuộc vào từng loại nợ. Nợ ngắn hạn có thời gian đáo hạn trong vòng 1 năm, nợ trung hạn có thời gian đáo hạn trong vòng 1 đến 5 năm, nợ dài hạn có thời gian đáo hạn trên 5 năm.
Đến thời điểm đáo hạn, doanh nghiệp có nghĩa vụ bắt buộc hoàn trả nợ cho chủ nợ. Vốn cổ phần: Vốn cổ phần không có tính đáo hạn. Khi đầu tư vào doanh nghiệp, chủ doanh nghiệp không được thỏa thuận thời gian hoàn trả phần vốn đã đầu tư. Chủ doanh nghiệp chỉ lấy có thể lấy lại vốn đã đầu tư khi nhượng bán cổ phần cho người khác hoặc thanh lý doanh nghiệp.
- Quyền được hưởng lợi nhuận: Chủ nợ: được ưu tiên hưởng lợi nhuận đầu tiên, biểu hiện dưới hình thức là các khoản tiền lãi cho vay. Dù kết quả hoạt động của doanh nghiệp tốt hay xấu, lời hay lỗ thì chủ nợ vẫn được hưởng số tiền lãi nhất định theo mức lãi suất đã thỏa thuận ban đầu, không phụ thuộc vào lợi nhuận của doanh nghiệp. Như vậy, quyền hưởng lợi nhuận (lãi vay) của chủ nợ mang tính chắc chắn khá cao. Các chủ sở hữu cổ phần ưu đãi: được ưu tiên hưởng lợi nhuận thứ hai sau các chủ nợ, biểu hiện dưới hình thức tiền (đối với công ty trách nhiệm hữu hạn, doanh nghiệp tư nhân), cổ tức (đối với công ty cổ phần).
Để được hưởng quyền ưu tiên này, các chủ sở hữu cổ phần ưu đãi thường chấp nhận giới hạn số tiền lợi nhuận được nhận hàng năm. Các chủ sở hữu cổ phần thường: được hưởng lợi nhuận cuối cùng sau chủ nợ và chủ sở hữu cổ phần ưu đãi, biểu hiện dưới hình thức tiền (đối với công ty trách nhiệm hữu hạn, doanh nghiệp tư nhân), cổ tức (đối với công ty cổ phần). Tùy thuộc LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com -4- kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp và quyền định đoạt phân chia lợi nhuận của hội đồng quản trị (đối với công ty cổ phần) hay các thành viên góp vốn (đối với công ty trách nhiệm hữu hạn, doanh nghiệp tư nhân) mà các chủ sở hữu cổ phần thường được hưởng lợi nhuận nhiều hay ít. Quyền được hưởng lợi nhuận phân chia của các chủ sở hữu cổ phần thường là không chắc chắn.
- Trái quyền đối với tài sản: Các chủ nợ và chủ sở hữu chỉ quan tâm đến quyền này khi doanh nghiệp gặp khó khăn, buộc phải thanh lý tài sản. Tương tự như trái quyền đối với lợi nhuận: Chủ nợ được ưu tiên hưởng trái quyền tài sản đầu tiên, số tiền chủ nợ được hưởng sau khi thanh lý tài sản được xác định bằng số tiền nợ gốc và số tiền lãi chưa thu, chủ sở hữu cổ phần ưu đãi (cổ đông ưu đãi) được hưởng quyền ưu tiên thứ hai sau chủ nợ, chủ sở hữu cổ phần thường (cổ đông thường) được hưởng sau cùng. - Quyền điều hành: Chủ nợ: Các chủ nợ không được quyền tham gia điều hành doanh nghiệp, không được quyền biểu quyết. Chủ sở hữu cổ phần ưu đãi: có thể hay không thể nắm quyền kiểm soát doanh nghiệp thông qua bỏ phiếu.
Thông thường các chủ sở hữu cổ phần ưu đãi không có quyền bầu các thành viên hội đồng quản trị. Chủ sở hữu cổ phần thường: là những người nắm quyền kiểm soát, lựa chọn ban điều hành doanh nghiệp. Các lý thuyết về cấu trúc vốn Do cấu trúc vốn là một phần của cấu trúc tài chính nên việc xem xét các lý thuyết về cấu trúc vốn và cấu trúc vốn tối ưu là tiền đề để xem xét cấu trúc tài chính tối ưu. Lý thuyết M&M về giá trị doanh nghiệp khi không có thuế Năm 1958, Modigliani và Miller đưa ra lý thuyết M&M về cấu trúc vốn doanh nghiệp.
Lý thuyết này xây dựng dựa trên giả định về thị trường vốn hoàn hảo mà tại thị trường đó không có thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân, không có các chi phí giao dịch, không có chi phí kiệt quệ tài chính, có đủ số người mua, LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com -5- bán trên thị trường, mức lãi suất cho vay áp dụng cho mọi nhà đầu tư là như nhau, thông tin của mọi người nhận được là như nhau. Định đề M&M I: “ Giá trị thị trường của một doanh nghiệp độc lập với cấu trúc tài chính vốn của doanh nghiệp đó trong các thị trường vốn hoản hảo không có thuế thu nhập doanh nghiệp” (Nguồn: GS. Trần Ngọc Thơ, PGS.TS Phan Thị Bích Nguyệt, PGS.TS Nguyễn Thị Ngọc Trang, TS Nguyễn Thị Liên Hoa, TS Nguyễn Thị Uyên Uyên (2005), Tài chính doanh nghiệp hiện đại, Nxb Thống kê). VL=VU Trong đó: VL: Giá trị doanh nghiệp có vay nợ VU: Giá trị doanh nghiệp không vay nợ Trong thị trường không có thuế, các doanh nghiệp kinh doanh giống nhau và có mức kỳ vọng lợi nhuận như nhau thì giá trị là như nhau bất kể doanh nghiệp sử dụng cấu trúc vốn khác nhau.
Như vậy, giá trị của công ty sử dụng nợ và giá trị của công ty không sử dụng nợ là như nhau. Việc lựa chọn nguồn tài trợ, thay đổi cơ cấu vốn không tác động đến giá trị của công ty. Lý thuyết M&M về giá trị doanh nghiệp khi có thuế Năm 1963, Modigliani và Miller đưa ra lý thuyết về giá trị doanh nghiệp khi có thuế: “Trong trường hợp có thuế thu nhập doanh nghiệp, giá trị của công ty có vay nợ bằng giá trị của công ty không có vay nợ cộng hiện giá của tấm chắn thuế”. Trần Ngọc Thơ, PGS.TS Phan Thị Bích Nguyệt, PGS.TS Nguyễn Thị Ngọc Trang, TS Nguyễn Thị Liên Hoa, TS Nguyễn Thị Uyên Uyên (2005), Tài chính doanh nghiệp hiện đại, Nxb Thống kê).
VL=VU + TCD Trong đó: VL: Giá trị doanh nghiệp có vay nợ VU: Giá trị doanh nghiệp không vay nợ TC : thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp D: nợ vay TCD: hiện giá tấm chắn thuế LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.