CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ TRUNG TÂM CNVH 1.1 Các khái niệm liên quan đến ngành CNVH và Trung tâm CNVH 1.1Khái niệm CNVH và đặc điểm sản phẩm CNVH a) Khái niệm Công nghiệp văn hóa (CNVH) Thuật ngữ “Công nghiệp văn hóa” (Culture Industries), theo UNESCO, là sự tập hợp các ngành kinh tế khai thác và sử dụng hiệu quả tính sáng tạo, kỹ năng, sở hữu trí tuệ, sản xuất các sản phẩm và dịch vụ có ý nghĩa văn hóa xã hội; nhấn mạnh đến hai yếu tố công nghiệp và sáng tạo. Sự kết hợp giữa hai yếu tố này đã tạo nên đặc trưng của ngành công nghiệp này. Nói cách khác, CNVH là ngành công nghiệp kết hợp sáng tạo, sản xuất, phân phối và dịch vụ tiêu dùng các sản phẩm có yếu tố văn hóa và được các quyền sở hữu trí tuệ bảo vệ. Cơ cấu ngành CNVH (Culture Industries) ở các nước khác nhau tùy thuộc vào bối cảnh địa phương.
Tại Việt Nam. Có 12 nhóm ngành được xếp vào CNVH: Quảng cáo, Kiến trúc, Phần mềm và trò chơi giải trí, Thủ công mỹ nghệ, Thiết kế, Điện ảnh, Xuất bản, Thời trang, Nghệ thuật biểu diễn, Mỹ thuật, nhiếp ảnh, triển lãm, Truyền hình và phát thanh, Du lịch văn hóa. Tổng quan lại, Công nghiệp Văn hóa là hoạt động sản xuất, dịch vụ gắn với sáng tạo (vì vậy còn được gọi là ngành Công nghiệp sáng tạo – Creative Industries), nằm giữa kinh tế, chính trị, xã hội và văn hóa, giữa lĩnh vực kinh tế công nghiệp, kinh tế dịch vụ và kinh tế số, là điểm giao của nghệ thuật, sản xuất, kinh doanh và khoa học – công nghệ, giữa bản sắc văn hóa quốc gia và hội nhập quốc tế. Phân chia các ngành thuộc lĩnh vực CNVH trong mỗi quốc gia khác nhau.1 cho thấy: Một số quốc gia không gọi CNVH mà gọi là Công nghiệp Sáng tạo hay Công nghiệp Văn hóa và Sáng tạo.
Nhiều quốc gia không xếp Du lịch văn hóa và lĩnh vực CNVH.1 So sánh thuật ngữ ngành Công nghiệp sáng tạo/ Công nghiệp văn hóa và cơ cấu ngành ở các nước trên thế giới Quốc gia Anh Đức Tây Pháp Việt Nam Ban Nha Từ sử dụng CN sáng CN văn CN văn Ngành CN văn hóa tạo hóa và hóa văn hóa sáng tạo Quảng cáo (Advertising) x x x Kiến trúc (Architecture) x x x x Phần mềm và trò chơi x x x giải trí (Software and Gamification) Thủ công mỹ nghệ x x (Crafts) Thiết kế (Design) x x x Truyền thông nghe nhìn x x x x Chia thành: Điện (Điện ảnh, truyền hình, ảnh và Truyền phát thanh) hình, phát thanh Xuất bản (Publishing) x x x x x Thời trang (Fashion) x x Nghệ thuật biểu diễn x x x x x (Performing Arts) Nghệ thuật thị giác x x x x Mỹ thuật, nhiếp ảnh, triển lãm Thư viện x x Bảo tàng/ Di sản x x Du lịch văn hóa Âm nhạc x x x x Nghệ thuật biểu diễn Du lịch văn hóa (Travel) x Nguồn: Mapping the creative industries: a tool kit (2010) của British Council (41) b) Đặc điểm của sản phẩm ngành CNVH - Về sản phẩm: Theo cuốn Di sản thế giới tại ASEAN “Một tầm nhìn, một bản sắc, một cộng đồng” (8), đặc điểm của sản phẩm ngành CNVH được khái quát như sau: Sản phẩm có thị trường rộng lớn (trong và ngoài nước) và thu hút nhiều doanh nghiệp, cộng đồng xã hội khởi nghiệp; Nguyên liệu đầu vào (hay tài nguyên cơ bản) cho tạo lập sản phẩm chủ yếu là ý tưởng sáng tạo, một loại tài nguyên mang tính toàn cầu, không giới hạn bởi các nguồn lực hạn chế như trong các ngành công nghiệp truyền thống; Sản phẩm tạo ra không cố định, luôn được điều chỉnh theo nhu cầu của 5 thị trường tiêu thụ; Người lao động tạo lập sản phẩm tham gia trực tiếp vào quá trình hình thành, hoàn thiện và định hình sản phẩm gắn với thị trường tiêu thụ; Có sự phối hợp giữa nhiều cá nhân, nhóm, tổ chức… để tạo lập ra một sản phẩm có giá trị; Sản phẩm được phân biệt bởi chất lượng và tính độc đáo; mỗi sản phẩm là một sự kết hợp khác nhau của vô số các yếu tố đầu vào dẫn đến kết quả sản phẩm là đa dạng, vô tận; Sự khác biệt về kỹ năng, sáng tạo dù nhỏ cũng có thể mang lại những thành công lớn về vị thế, tài chính mà không phụ thuộc vào mức độ đầu tư; Thời gian có vai trò quan trọng trong việc tạo lập và thị trường hóa sản phẩm; Sự phân chia nguồn lợi của các bên tham gia theo tiến trình tạo lập và dịch vụ tiêu dùng sản phẩm phải tính cả bản quyền tác giả của sản phẩm. - Các ngành CNVH thường gắn với công nghệ kỹ thuật số, ví dụ như: Công nghệ thực tại ảo (Virtual Reality); Công nghệ tăng cường thực tế thật (Augement Reality); Quét và in 3D (3D Scanning and Printing); Công nghệ thông tin địa lý (Geographic Information System – GIS); Kỹ xảo điện ảnh (Visual Effect – VFX),… - Lợi thế cho phát triển CNVH và doanh nghiệp tạo lập sản phẩm văn hóa là tại các quốc gia có truyền thống văn hóa phong phú và các quốc gia có môi trường thúc đẩy năng lực sáng tạo.2 Các khái niệm liên quan dến Trung tâm CNVH a) Trung tâm CNVH Ngày 8/9/2016, Chính phủ ra quyết định số 1755/QĐ-TTg phê duyệt “Chiến lược phát triển các ngành CNVH Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030” (15). Theo như văn bản này, Trung tâm CNVH là hệ thống kết cấu hạ tầng hỗ trợ sự phát triển của ngành CNVH. Trên thế giới, đặc biệt là Anh – nước có ngành CNVH rất phát triển, gọi các không gian hỗ trợ cho mạng lưới kết nối, phát triển kinh doanh của doanh nghiệp và tổ chức trong lĩnh vực CNVH, ví dụ như nơi hỗ trợ các dự án khởi nghiệp, phòng thử nghiệm, các khu vực nghệ thuật…bằng các thuật ngữ như: Không gian văn hóa và sáng tạo (Creative and Cultural Hub) hoặc Không gian sáng tạo (Creative Hub; Coworking Space).
Trong những năm gần đây, Mô hình Không gian sáng tạo (Coworking Space) 6 phát triển nhanh chóng. Đây là mô hình văn phòng khác biệt so với mô hình văn phòng truyền thống. Không gian sáng tạo phục vụ cho các công ty, nhà cung cấp, nhà tư vấn… Tất cả các thành viên trở thành một cộng đồng chia sẻ các tiện ích bên trong một không gian làm việc chung, được vận hành bởi cá nhân hoặc tổ chức tư nhân như là một cơ sở tự trị. Tinh thần cộng đồng và tính sẻ chia là cốt lõi của Coworking Space.
Mục đích chính của không gian này là tạo ra một nơi làm việc và gặp gỡ cho các doanh nghiệp, người làm nghề tự do, nhà tư vấn…,những người có ý tưởng sáng tạo và muốn chia sẻ chúng với những người khác. Bộ công cụ Không gian sáng tạo Hubkit (Creative HubKit) của Hội đồng Anh phân loại Không gian sáng tạo thành 6 mô hình: i) Studio: Một không gian nhỏ cho một tập thể cá nhân và/hoặc doanh nghiệp nhỏ cùng làm việc; ii) Công trình: Một không gian lớn, có thể bao gồm những cơ sở vật chất khác nhau như: Văn phòng; Xưởng sản xuất; Không gian trưng bày triển lãm; Không gian biểu diễn; Cửa hàng, quán cà phê, giải khát…; iii) Mạng lưới: Gồm các cá nhân và/hoặc doanh nghiệp phân tán ở các nơi – thường bao gồm các ngành hoặc không gian cụ thể;iv) Cụm/Tổ hợp/Trung tâm: Là nơi tập trung các cá nhân và doanh nghiệp sáng tạo trong một khu vực địa lý nhất định; v) Không gian trực tuyến: Loại hình này chỉ hoạt động theo hình thức online như các trang web, mạng xã hội để kết nối với những đối tượng công chúng rải rác; vi) Không gian Thể nghiệm (Alternative): Là loại hình tập trung thử nghiệm với cộng đồng mới, ngành nghề mới và mô hình tài chính mới. Như vậy có thể xác định Trung tâm CNVH là: - Hệ thống kết cấu hạ tầng phát triển các ngành CNVH, trước hết là hệ thống dịch vụ sản xuất và tiêu dùng cấp cao trong lĩnh vực CNVH; là không gian hay môi trường văn hóa và sáng tạo, hỗ trợ cho mạng lưới kết nối, phát triển kinh doanh của các cá nhân, doanh nghiệp và cộng đồng hoạt động trong lĩnh vực CNVH; - Các cụm hay tổ hợp không gian sáng tạo tập trung trong một khu vực địa lý nhất định (địa điểm tập trung thực và kết hợp trực tuyến); Đa chức năng phù hợp với tính đa dạng của các loại ngành CNVH; Nằm trong mạng lưới không gian sáng tạo và là một trong những điểm nút của hệ thống mạng lưới các ngành CNVH; - Điểm khởi đầu, đột phá trong phát triển ngành CNVH, Trung tâm CNVH được 7 đặt tại các địa điểm: i) Có tiềm năng về tài nguyên văn hóa; ii) Có nguồn lao động sáng tạo và iii) Có môi trường thúc đẩy sáng tạo và và hội nhập quốc tế. b) Mô hình Trung tâm CNVH Trong thực tế, để khái quát hoá các sự vật, hiện tượng, các quá trình, các mối quan hệ hay một ý tưởng nào đó, người ta thường thể hiện dưới dạng mô hình.
Mô hình Trung tâm CNVH trong đề tài được thiết lập để khái quát hóa (lý luận hóa) các quan điểm, pháp lý, nội dung và tổ chức thực hiện phát triển Trung tâm CNVH, trước hết trong lĩnh vực QHXD hay lĩnh vực không gian, gắn với tiến trình thực hiện Chiến lược phát triển các ngành CNVH Việt Nam đến năm 2030. Có nhiều loại Mô hình Trung tâm CNVH, phụ thuộc vào từng địa điểm, thời điểm, tạo thành hệ thống Mô hình Trung tâm CNVH. c) Mô hình Trung tâm CNVH gắn với Di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới và tại ĐKKT - văn hóa: ĐKKT Vân Đồn gắn với Di sản thế giới Vịnh Hạ Long là nơi có tiềm năng tài nguyên và thương hiệu văn hóa to lớn, môi trường thúc đẩy hội nhập quốc tế thuận lợi. Đây là địa điểm vô cùng thích hợp cho việc xây dựng Mô hình Trung tâm CNVH.
Từ đây, lan tỏa động lực hình thành hệ thống mạng lưới các ngành CNVH tại Quảng Ninh, Vùng Kinh tế trọng điểm Bắc Bộ và Vùng Duyên hải Bắc Bộ.2 Bối cảnh nền kinh tế - văn hóa Việt Nam đối với phát triển ngành CNVH 1.1 Bối cảnh chung Việt Nam là một quốc gia thuộc nhóm Nước đang phát triển, một thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO); thành viên của Cộng đồng Kinh tế ASEAN và tham gia Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP). Việt Nam có diện tích đất liền khoảng 331.699 km2, đứng thứ 66 trên thế giới; Dân số khoảng 95,414 triệu người (năm 2017), đứng thứ 14 trên thế giới.