Luận văn: Hoàn thiện quản lý thu thuế XNK tại Cục Hải quan Quảng Bình

Luận văn phân tích thực trạng, đề xuất giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thu thuế xuất nhập khẩu tại Cục Hải quan tỉnh Quảng Bình giai đoạn 2012-2017.

Chuyên ngành

Quản lý kinh tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2018

102
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Toàn cảnh công tác quản lý thu thuế XNK tại Hải quan Quảng Bình

Quản lý thu thuế xuất nhập khẩu (XNK) là nhiệm vụ trọng tâm, đóng vai trò then chốt đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Quảng Bình. Đây là nguồn thu quan trọng, ổn định cho thu ngân sách nhà nước, đồng thời là công cụ điều tiết vĩ mô, thúc đẩy hoạt động xuất nhập khẩu Quảng Bình theo đúng định hướng của chính phủ. Theo Luận văn Thạc sĩ của Nguyễn Thị Kim Hương (2018), công tác này không chỉ đảm bảo nguồn lực tài chính cho địa phương mà còn góp phần bảo hộ sản xuất trong nước, tạo môi trường kinh doanh lành mạnh. Cục Hải quan tỉnh Quảng Bình là đơn vị trực tiếp thực thi nhiệm vụ này, đối mặt với nhiều cơ hội và thách thức trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng. Việc hoàn thiện công tác quản lý thuế XNK không chỉ là yêu cầu cấp thiết để tăng nguồn thu ngân sách địa phương mà còn là yếu tố quyết định để tạo thuận lợi thương mại, thu hút đầu tư, và nâng cao năng lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp XNK trên địa bàn. Quá trình này đòi hỏi sự đổi mới liên tục về cơ chế, chính sách và quy trình nghiệp vụ để thích ứng với các cam kết quốc tế và ngăn chặn hiệu quả các hành vi gian lận.

1.1. Tầm quan trọng đối với thu ngân sách nhà nước tại Quảng Bình

Thuế XNK là một trong những nguồn thu chính và ổn định, đóng góp phần lớn vào tổng thu ngân sách nhà nước tại Quảng Bình. Theo báo cáo của Cục Hải quan tỉnh Quảng Bình, số thu nộp ngân sách từ hoạt động XNK giai đoạn 2012-2017 luôn chiếm tỷ trọng đáng kể. Nguồn thu này được sử dụng để đầu tư vào cơ sở hạ tầng, an sinh xã hội và các dự án phát triển kinh tế trọng điểm của tỉnh. Do đó, việc quản lý hiệu quả nguồn thu này, đặc biệt là chống thất thu thuế, có ý nghĩa sống còn đối với sự tự chủ tài chính và phát triển bền vững của địa phương. Một hệ thống quản lý thu thuế XNK minh bạch và hiệu quả sẽ đảm bảo nguồn thu được huy động tối đa, công bằng và đúng pháp luật.

1.2. Bối cảnh hoạt động xuất nhập khẩu tại tỉnh Quảng Bình

Quảng Bình có vị trí địa lý chiến lược với cửa khẩu quốc tế Cha Lo, cảng Hòn La, là cửa ngõ quan trọng trên hành lang kinh tế Đông - Tây. Giai đoạn 2012-2017 chứng kiến sự tăng trưởng mạnh mẽ của hoạt động xuất nhập khẩu Quảng Bình, với kim ngạch liên tục tăng qua các năm. Các mặt hàng XNK chính bao gồm thạch cao, gỗ, nông sản, và hàng hóa phục vụ các dự án đầu tư. Sự sôi động này đặt ra yêu cầu cao hơn cho công tác quản lý của Chi cục Hải quan cửa khẩu Cha Lo và các đơn vị trực thuộc. Việc đơn giản hóa thủ tục, minh bạch hóa thủ tục và áp dụng công nghệ hiện đại là xu thế tất yếu để đáp ứng khối lượng công việc ngày càng lớn, đồng thời đảm bảo kiểm soát chặt chẽ, ngăn ngừa rủi ro.

II. Các thách thức trong quản lý thu thuế XNK tại Cục Hải quan Quảng Bình

Mặc dù đạt được nhiều kết quả tích cực, công tác quản lý thu thuế XNK tại Cục Hải quan tỉnh Quảng Bình vẫn đối mặt với không ít khó khăn. Thách thức lớn nhất đến từ các hành vi gian lận thương mại ngày càng tinh vi và phức tạp. Các doanh nghiệp lợi dụng kẽ hở trong chính sách thuế XNK để khai sai mã số HS, trị giá hàng hóa, hoặc xuất xứ nhằm trốn thuế. Tình trạng nợ đọng thuế vẫn còn tồn tại, gây áp lực lên công tác quản lý nợ thuế và ảnh hưởng trực tiếp đến nguồn thu ngân sách. Bên cạnh đó, hệ thống văn bản pháp luật về thuế thường xuyên thay đổi, đòi hỏi cán bộ hải quan phải liên tục cập nhật, trong khi nguồn nhân lực và cơ sở vật chất đôi khi chưa đáp ứng kịp yêu cầu của quá trình hiện đại hóa hải quan. Nghiên cứu chỉ ra rằng, việc phối hợp giữa các cơ quan liên quan như Thuế, Kho bạc, Công an đôi lúc chưa đồng bộ, tạo điều kiện cho các hành vi vi phạm pháp luật về thuế phát sinh, gây khó khăn cho việc chống thất thu thuế một cách triệt để.

2.1. Thực trạng gian lận thương mại và quản lý nợ đọng thuế

Hành vi gian lận thương mại là một trong những thách thức nhức nhối nhất. Các hình thức phổ biến bao gồm khai báo sai tên hàng, mã số, trị giá tính thuế để hưởng mức thuế suất thấp hơn, hoặc lợi dụng các chính sách ưu đãi không đúng đối tượng. Điều này không chỉ gây thất thu lớn cho ngân sách mà còn tạo ra môi trường cạnh tranh không lành mạnh. Song song đó, công tác quản lý nợ thuếthu hồi nợ đọng thuế vẫn còn nhiều khó khăn. Một số doanh nghiệp cố tình chây ì, thậm chí giải thể hoặc bỏ trốn khỏi địa chỉ kinh doanh để trốn tránh nghĩa vụ nộp thuế, khiến các khoản nợ trở thành nợ khó đòi, gây áp lực nặng nề cho cơ quan hải quan.

2.2. Hạn chế từ cơ chế chính sách và nguồn lực thực thi

Hệ thống chính sách thuế XNK dù đã được cải thiện nhưng đôi khi vẫn còn những quy định chưa rõ ràng, dễ bị lợi dụng. Sự thay đổi liên tục của các biểu thuế và quy định đòi hỏi cả doanh nghiệp XNK và cán bộ hải quan phải có thời gian để thích ứng. Về nguồn lực, luận văn của Nguyễn Thị Kim Hương (2018) cũng đề cập đến việc biên chế của Cục Hải quan tỉnh Quảng Bình còn thiếu so với nhu cầu, nhiều công chức phải kiêm nhiệm công việc. Điều này ảnh hưởng đến chiều sâu của công tác kiểm tra, giám sát, đặc biệt là kiểm tra sau thông quan, một công cụ hữu hiệu để chống thất thu thuế.

III. Bí quyết hiện đại hóa quản lý thu thuế XNK bằng công nghệ số

Để giải quyết các thách thức, hiện đại hóa hải quan được xác định là giải pháp đột phá. Trọng tâm của quá trình này là đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin vào mọi khâu nghiệp vụ. Việc triển khai thành công hệ thống VNACCS/VCIS (Hệ thống thông quan hàng hóa tự động Việt Nam) đã tạo ra một cuộc cách mạng trong công tác quản lý. Hệ thống này cho phép thực hiện thủ tục hải quan điện tử một cách toàn diện, từ khâu khai báo, nộp thuế đến thông quan hàng hóa. Điều này không chỉ rút ngắn đáng kể thời gian, giảm chi phí cho doanh nghiệp mà còn tăng cường tính minh bạch, hạn chế tiêu cực. Hệ thống phân luồng tự động (Xanh, Vàng, Đỏ) dựa trên quản lý rủi ro trong thu thuế giúp cơ quan hải quan tập trung nguồn lực kiểm tra các lô hàng có nguy cơ cao, đồng thời tạo thuận lợi thương mại tối đa cho các doanh nghiệp tuân thủ tốt pháp luật. Đây là bước đi chiến lược, phù hợp với xu thế chung của thế giới và là nền tảng vững chắc để nâng cao hiệu quả quản lý.

3.1. Triển khai thủ tục hải quan điện tử và hệ thống VNACCS VCIS

Thủ tục hải quan điện tử thông qua hệ thống VNACCS/VCIS đã thay thế hoàn toàn phương thức thủ công trước đây. Doanh nghiệp có thể thực hiện khai báo 24/7 từ bất kỳ đâu có kết nối internet, giúp tiết kiệm thời gian và chi phí đi lại. Dữ liệu được xử lý tự động, giảm thiểu sai sót do yếu tố con người và đảm bảo tính nhất quán. Tại Cục Hải quan tỉnh Quảng Bình, việc áp dụng hệ thống này đã giúp giảm thời gian thông quan trung bình từ vài giờ xuống chỉ còn vài phút đối với luồng Xanh, góp phần giải phóng hàng hóa nhanh chóng, nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp.

3.2. Áp dụng quản lý rủi ro trong thu thuế để phân luồng hiệu quả

Nguyên tắc quản lý rủi ro trong thu thuế là xương sống của hải quan hiện đại. Thay vì kiểm tra dàn trải 100% lô hàng, hệ thống sẽ tự động phân tích dữ liệu về doanh nghiệp, mặt hàng, lịch sử tuân thủ... để đánh giá mức độ rủi ro và phân vào các luồng tương ứng. Luồng Xanh (miễn kiểm tra) dành cho doanh nghiệp uy tín, Luồng Vàng (kiểm tra hồ sơ) và Luồng Đỏ (kiểm tra thực tế hàng hóa) dành cho các trường hợp có rủi ro cao hơn. Phương pháp này giúp cơ quan hải quan sử dụng nguồn lực một cách thông minh, tập trung vào những nơi tiềm ẩn nguy cơ gian lận thương mạichống thất thu thuế hiệu quả hơn.

IV. Phương pháp nâng cao năng lực và phối hợp chống thất thu thuế XNK

Bên cạnh công nghệ, yếu tố con người và sự phối hợp liên ngành giữ vai trò quyết định đến hiệu quả quản lý thu thuế. Giải pháp trọng tâm là xây dựng đội ngũ cán bộ công chức hải quan chuyên nghiệp, liêm chính, có đủ năng lực đáp ứng yêu cầu hội nhập. Cục Hải quan tỉnh Quảng Bình cần thường xuyên tổ chức các khóa đào tạo, bồi dưỡng chuyên sâu về nghiệp vụ, đặc biệt là các kỹ năng phân tích rủi ro, kiểm tra sau thông quan và áp dụng chính sách thuế XNK mới. Đồng thời, việc tăng cường quan hệ phối hợp với các cơ quan hữu quan như Thuế, Kho bạc, Công an, Bộ đội Biên phòng là hết sức cần thiết. Sự phối hợp này tạo ra một cơ chế chia sẻ thông tin hiệu quả, giúp nhận diện sớm các dấu hiệu gian lận thương mại, đồng thời triển khai đồng bộ các biện pháp cưỡng chế để thu hồi nợ đọng thuế. Một chiến lược chống thất thu thuế toàn diện phải dựa trên sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, không chỉ riêng ngành hải quan.

4.1. Đẩy mạnh cải cách hành chính thuế và đối thoại doanh nghiệp

Công tác cải cách hành chính thuế phải được thực hiện liên tục, tập trung vào việc minh bạch hóa thủ tục và đơn giản hóa quy trình. Cục Hải quan tỉnh Quảng Bình cần tăng cường các hoạt động đối thoại, tư vấn, hỗ trợ doanh nghiệp XNK. Việc công khai, minh bạch các quy định pháp luật và giải đáp kịp thời các vướng mắc sẽ giúp doanh nghiệp tuân thủ tốt hơn, giảm thiểu sai sót không đáng có. Xây dựng mối quan hệ đối tác tin cậy giữa hải quan và doanh nghiệp là nền tảng để nuôi dưỡng nguồn thu ngân sách địa phương một cách bền vững.

4.2. Tăng cường thanh tra và kiểm tra sau thông quan

Kiểm tra sau thông quan (KTSTQ) là biện pháp nghiệp vụ quan trọng trong môi trường tạo thuận lợi thương mại. Sau khi hàng hóa đã được giải phóng nhanh chóng, cơ quan hải quan sẽ tiến hành kiểm tra lại hồ sơ, sổ sách kế toán tại trụ sở doanh nghiệp. Hoạt động này giúp phát hiện các hành vi khai sai, trốn thuế mà khâu kiểm tra tại cửa khẩu có thể bỏ sót. Việc tăng cường KTSTQ không chỉ giúp truy thu cho ngân sách nhà nước mà còn có tác dụng răn đe, nâng cao ý thức tuân thủ tự nguyện của cộng đồng doanh nghiệp, góp phần tích cực vào công cuộc chống thất thu thuế.

V. Kết quả thực tiễn từ các giải pháp quản lý thu thuế XNK mới

Việc áp dụng đồng bộ các giải pháp quản lý hiện đại đã mang lại những kết quả tích cực cho công tác thu thuế XNK tại Quảng Bình. Luận văn của Nguyễn Thị Kim Hương (2018) đã chỉ ra rằng, trong giai đoạn 2012-2017, số thu nộp ngân sách của Cục Hải quan tỉnh Quảng Bình luôn đạt và vượt chỉ tiêu được giao. Việc triển khai thủ tục hải quan điện tửhệ thống VNACCS/VCIS đã giảm thiểu đáng kể thời gian và chi phí cho doanh nghiệp, được cộng đồng doanh nghiệp XNK đánh giá cao. Công tác quản lý rủi ro trong thu thuế giúp hoạt động kiểm tra có trọng tâm, trọng điểm hơn, qua đó phát hiện nhiều vụ việc gian lận thương mại, truy thu hàng tỷ đồng cho ngân sách. Nỗ lực thu hồi nợ đọng thuế cũng có nhiều chuyển biến, số nợ xấu giảm dần qua các năm. Những kết quả này khẳng định hướng đi đúng đắn trong việc hiện đại hóa hải quancải cách hành chính thuế, góp phần ổn định nguồn thu ngân sách địa phương và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh.

5.1. Phân tích hiệu quả thu ngân sách nhà nước và thu hồi nợ thuế

Số liệu thống kê cho thấy sự tăng trưởng ổn định trong thu ngân sách nhà nước từ hoạt động XNK. Các biện pháp như tham vấn giá, kiểm tra mã số HS và tăng cường kiểm tra sau thông quan đã trực tiếp làm tăng số thu. Công tác thu hồi nợ đọng thuế được thực hiện quyết liệt hơn thông qua các biện pháp như cưỡng chế dừng làm thủ tục hải quan đối với các doanh nghiệp chây ì. Nhờ đó, tỷ lệ nợ đọng trên tổng số thu đã giảm đáng kể, đảm bảo kỷ cương, kỷ luật tài chính.

5.2. Đánh giá mức độ tạo thuận lợi thương mại cho doanh nghiệp XNK

Khảo sát các doanh nghiệp XNK trên địa bàn cho thấy mức độ hài lòng ngày càng cao đối với các thủ tục của cơ quan hải quan. Thời gian thông quan nhanh chóng, thủ tục minh bạch, chi phí ngoài luồng giảm là những yếu tố chính tạo thuận lợi thương mại. Sự thay đổi này giúp doanh nghiệp giảm chi phí lưu kho, lưu bãi, quay vòng vốn nhanh hơn và chủ động hơn trong kế hoạch sản xuất kinh doanh. Đây là minh chứng rõ nét cho hiệu quả của quá trình cải cách hành chính thuế tại Cục Hải quan tỉnh Quảng Bình.

04/10/2025
Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế hoàn thiện công tác quản lý thu thuế xuất nhập khẩu tại cục hải quan tỉnh quảng bình

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ THU THUẾ XUẤT NHẬP KHẨU Ở CƠ QUAN HẢI QUAN 1. Lý luận cơ bản về quản lý thu thuế xuất nhập khẩu ở cơ quan Hải quan 1. Khái niệm, bản chất và vai trò của thuế xuất nhập khẩu 1. Khái niệm Theo từ điển Kinh tế học (Anh - Việt): “Thuế xuất nhập khẩu là khoản thuế mà Chính phủ đánh vào sản phẩm xuất nhập khẩu.

Thuế xuất nhập khẩu được sử dụng để tăng nguồn thu cho Chính phủ và bảo vệ các ngành sản xuất trong nước khỏi sự cạnh tranh của nước ngoài” [36]. Giáo trình Lý thuyết Thuế của Học viện Tài chính: “Thuế XK, thuế NK là sắc thuế đánh vào hàng hóa XK, NK theo quy định của pháp luật Việt Nam” [49]. Trên thực tế có rất nhiều loại thuế được chia ra do hai cơ quan thu chủ yếu đó là cơ quan Thuế và cơ quan Hải quan. Cơ quan Thuế chịu trách nhiệm thu thuế nội địa, cơ quan Hải quan chịu trách nhiệm thu thuế đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu qua biên giới Việt Nam, bao gồm: + Thuế xuất khẩu (thuế thu từ hàng hoá xuất khẩu): là khoản tiền người xuất khẩu phải nộp khi tiến hành làm thủ tục hải quan xuất khẩu hàng hoá ra khỏi biên giới [50].

+ Thuế nhập khẩu (thuế thu từ hàng hoá nhập khẩu) là loại thuế gián thu động viên từ người tiêu dùng hàng hóa nhập khẩu nhằm góp phần bảo đảm nguồn thu cho ngân sách nhà nước và bảo hộ sản xuất trong nước. Thuế nhập khẩu với mục tiêu kinh tế là bảo hộ sản xuất trong nước và tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước thông qua việc thu vào hàng hoá được phép nhập khẩu từ nước ngoài hoặc từ khu phi thuế quan vào thị trường trong nước; là thuế đánh vào hàng hóa khi nhập khẩu qua cửa khẩu, biên giới quốc gia; hàng hoá đưa từ khu phi thuế quan vào thị trường trong nước. Thuế nhập khẩu là thuế gián thu - một trong những yếu tố cấu thành trong giá cả hàng hoá [50]. Thuế nhập khẩu do các tổ chức, cá nhân có hàng hoá nhập khẩu thuộc đối tượng chịu thuế phải thực hiện nghĩa vụ đóng góp theo quy định của pháp luật với mức độ và thời hạn cụ thể.

Sử dụng tốt chính sách thuế nhập khẩu là phát huy đầy đủ chức năng, 6 vai trò của thuế, đảm bảo nguồn thu cho ngân sách nhà nước và điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Đặc biệt, trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, thuế nhập khẩu còn là công cụ thể hiện chính sách kinh tế đối ngoại của quốc gia với các quốc gia khác trong thương mại quốc tế. Việc sử dụng có hiệu quả thuế nhập khẩu chính là phát huy đầy đủ các chức năng cơ bản của nó trong lĩnh vực hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa. Đặc biệt, trong điều kiện hội nhập kinh tế thế giới và khu vực thì thuế nhập khẩu càng thể hiện vai trò và tác dụng không chỉ là công cụ điều tiết vĩ mô nền kinh tế, mà còn là công cụ thể hiện chính sách đối ngoại giữa các quốc gia với nhau.

Bản chất của thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu Đặc điểm của thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu phản ánh bản chất của thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu trên hai phương diện: Về mặt kinh tế: Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu là một phần của cải xã hội được tập trung vào ngân sách nhà nước để đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nước, cơ sở kinh tế hay nền tảng của thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu là một bộ phận thu nhập được tạo ra từ hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu hàng hoá của tổ chức, cá nhân trong xã hội. Do đó việc động viên thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu phải có giới hạn của nó, giới hạn đó không thể vượt quá một mức nhất định trong tổng số thu nhập được tạo ra, mức thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu hợp lý sẽ có tác dụng tăng thu cho ngân sách nhà nước và kích thích sản xuất kinh doanh phát triển, ngược lại nếu thuế suất quy định quá cao so với thu nhập được tạo ra thì sẽ không khuyến khích kinh doanh chân chính nữa, do đó Nhà nước sẽ bị thất thu. Thực tế cho thấy, nếu quy định thuế suất quá cao thì đối tượng nộp thuế sẽ tìm cách để trốn thuế, lậu thuế và chi phí để chống trốn lậu thuế thường cao nhưng không mang lại kết quả mong muốn. Tuỳ theo tình hình thực tế để quy định mức thuế suất từ 0% lên đến một giới hạn nào đó sẽ đưa đến kết quả số thuế thu được sẽ tăng theo tỷ lệ thuận với tăng thuế suất, nếu thuế suất tăng vượt quá giới hạn cho phép thì kết quả sẽ ngược lại.

Trong trường hợp thuế suất quy định quá cao so với thu nhập được tạo ra, thì giải pháp duy nhất là phải hạ thấp thuế suất, đi đôi với việc tìm cách mở rộng diện thu thuế 7 để bao quát hết nguồn thu, vừa đảm bảo tăng thu thuế vừa đảm bảo công bằng xã hội trong thực hiện nghĩa vụ nộp thuế cho Nhà nước. Về mặt xã hội: Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu phản ánh mối quan hệ giữa Nhà nước và các pháp nhân, thể nhân tham gia hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu hàng hoá. Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu là một công cụ được Nhà nước sử dụng để thực hiện chức năng quản lý của mình đối với các hoạt động kinh tế đối ngoại, điều chỉnh các quan hệ phân phối, phân phối lại thu nhập xã hội giữa các tổ chức, cá nhân và Nhà nước do đó thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu mang tính xã hội cao. Nghiên cứu bản chất xã hội của thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu giúp chúng ta quán triệt đầy đủ và sâu sắc yêu cầu trong việc hoạch định chính sách thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu phải đảm bảo rõ ràng, đơn giản, phù hợp với trình độ của cả người thu thuế và người nộp thuế.

Việc tổ chức quản lý thu thuế phải đảm bảo tính công khai, dân chủ mới đem lại hiệu quả cao, nếu không thì dù chính sách thuế có hợp lý đến đâu cũng chỉ tồn tại trên giấy. Vai trò của thuế xuất nhập khẩu Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu nằm trong hệ thống thuế quốc gia cho nên cũng có vai trò của thuế nói chung đó là tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước và điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Dưới góc độ một sắc thuế cụ thể, vai trò của thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu được phát huy ở những góc độ khác nhau tuỳ theo thực trạng phát triển kinh tế của mỗi quốc gia trong từng thời kỳ thể hiện trên các mặt sau: Một là, tạo nguồn thu ngân sách nhà nước: Để thực sự phát huy vai trò tạo nguồn thu ngân sách nhà nước, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu phải bao quát hết các hoạt động kinh doanh xuất khẩu, nhập khẩu hàng hoá của các tổ chức, cá nhân, đảm bảo thu đúng, thu đủ và nộp kịp thời tiền thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu vào ngân sách nhà nước. Thông qua thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu Nhà nước huy động một phần thu nhập được tạo ra từ hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu hàng hoá để tập trung vào ngân sách nhà nước.

Tuy nhiên, nếu Nhà nước dùng quyền lực của mình để huy động quá mức thu nhập thì phần thuộc về tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu hàng hoá sẽ giảm xuống, họ sẽ cảm thấy công sức bỏ vào kinh doanh được bù đắp không thoả đáng, từ đó họ chuyển sang kinh doanh ngầm để trốn thuế 8 hoặc chấm dứt hoạt động kinh doanh, dẫn đến Nhà nước không thu được thuế, thất thu thuế.Vì vậy, khi tái phân phối thu nhập bằng thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu phải chú ý đến khả năng nộp thuế của tổ chức, cá nhân hoạt động kinh doanh xuất khẩu, nhập khẩu. Khả năng nộp thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu là tỷ lệ tối đa (từ thu nhập có được thông qua hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu hàng hoá) trích ra để nộp thuế mà không ảnh hưởng hoặc thay đổi hoạt động kinh doanh của họ. Khả năng nộp thuế tuỳ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế, ý thức chấp hành pháp luật, truyền thống văn hoá của mỗi quốc gia. Khả năng nộp thuế là một tiêu thức dùng để phân định ranh giới phân chia hợp lý thu nhập giữa Nhà nước động viên thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu chưa đạt giới hạn khả năng nộp thuế thì nguồn lực xã hội tập trung vào ngân sách nhà nước chưa thật đầy đủ.

Ngược lại, nếu Nhà nước động viên vượt giới hạn khả năng nộp thuế thì sẽ bào mòn, dẫn đến triệt tiêu hoạt động kinh doanh xuất khẩu, nhập khẩu hàng hoá của các tổ chức, cá nhân do đó làm giảm sút số thu trong tương lai, không đảm bảo nuôi dưỡng nguồn thu. Hai là, kiểm soát và điều tiết đối với hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu hàng hoá: Trong nền kinh tế thị trường hoạt động trao đổi, mua bán hàng hoá diễn ra ở hầu khắp các nước, dưới nhiều hình thức đa dạng về chủng loại hàng hoá, có hàng hoá phục vụ an ninh quốc phòng, có hàng hoá phục vụ nhu cầu tiêu dùng thiết yếu, có loại hàng hoá xâm hại đến chủ quyền an ninh quốc gia, đời sống nhân dân như ma tuý, vũ khí, văn hoá phẩm đồi truỵ…Vì vậy, thông qua việc kiểm tra, thu thuế đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu để nắm được thực chất hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu là loại hàng gì? với số lượng bao nhiêu? và xuất khẩu đi nước nào? nhập khẩu từ nước nào? qua đó Nhà nước kiểm soát được toàn bộ các loại hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu, để có những điều chỉnh chính sách đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu phù hợp thực tiễn. Để điều tiết hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu hàng hoá ngoài các biện pháp phi thuế quan như hạn ngạch, giấy phép… thì biện pháp sử dụng công cụ thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu được các nước áp dụng một cách phổ biến. Thông qua công cụ thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, Nhà nước khuyến khích hay hạn chế hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu đối với từng loại hàng hoá chẳng hạn: để khuyến khích xuất khẩu sản phẩm hoàn 9 chỉnh, Nhà nước quy định thuế suất thuế xuất khẩu cao đối với nguyên liệu thô, sản phẩm chưa qua chế biến nhằm hạn chế xuất khẩu.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ