Nghiên cứu giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thu bảo hiểm xã hội bắt buộc tại tỉnh Thái Nguyên

Luận văn phân tích thực trạng và đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý thu bảo hiểm xã hội bắt buộc tại tỉnh Thái Nguyên.

Trường đại học

Trường Đại học Thủy Lợi

Chuyên ngành

Kinh tế - QTKD

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn

2017

93
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan công tác quản lý thu BHXH bắt buộc Thái Nguyên

Quản lý thu Bảo hiểm xã hội (BHXH) bắt buộc là nhiệm vụ trọng tâm của hệ thống an sinh xã hội, đảm bảo quyền lợi cho người lao động và sự ổn định của quỹ BHXH. Tại Thái Nguyên, công tác này có vai trò đặc biệt quan trọng trong bối cảnh kinh tế - xã hội phát triển năng động, thu hút lượng lớn lao động. Việc tối ưu hóa quy trình thu nộp không chỉ giúp tăng cường nguồn quỹ mà còn góp phần đảm bảo an toàn đời sống cho hàng trăm nghìn người lao động và gia đình họ. Cơ quan BHXH tỉnh Thái Nguyên đóng vai trò là đơn vị nòng cốt trong việc triển khai, giám sát và thực thi chính sách. Hoạt động này dựa trên một hành lang pháp lý chặt chẽ, được cập nhật liên tục để phù hợp với thực tiễn. Hiểu rõ cơ sở lý luận và các quy định hiện hành là nền tảng để xây dựng các giải pháp quản lý hiệu quả, giải quyết các thách thức còn tồn tại và hướng tới mục tiêu bao phủ BHXH toàn diện.

1.1. Vai trò của cơ quan BHXH tỉnh Thái Nguyên trong an sinh

Theo quy định, cơ quan BHXH tỉnh Thái Nguyên là đơn vị trực thuộc BHXH Việt Nam, có chức năng tổ chức thực hiện các chế độ, chính sách BHXH, BHYT trên địa bàn. Nhiệm vụ cốt lõi bao gồm việc tổ chức khai thác, đăng ký, quản lý đối tượng tham gia; cấp sổ BHXH, thẻ BHYT; và quan trọng nhất là tổ chức thu các khoản đóng BHXH bắt buộc từ các tổ chức và cá nhân theo quy định. Cơ quan này không chỉ thực hiện chức năng hành chính mà còn đóng vai trò là cầu nối, tuyên truyền, phổ biến pháp luật để nâng cao nhận thức của người sử dụng lao động và người lao động. Một trong những nhiệm vụ then chốt là giám sát việc thực hiện hợp đồng khám chữa bệnh, bảo vệ quyền lợi người có thẻ BHYT và chống lạm dụng quỹ. Thông qua việc phân cấp quản lý cho các BHXH cấp huyện, cơ quan BHXH tỉnh đảm bảo chính sách được triển khai đồng bộ, sâu rộng đến từng địa phương, từ đó góp phần củng cố mạng lưới an sinh xã hội vững chắc.

1.2. Cập nhật Luật BHXH mới nhất và mức đóng năm 2024

Cơ sở pháp lý cho công tác thu BHXH bắt buộc liên tục được hoàn thiện. Luật BHXH mới nhất (Luật số 58/2014/QH13 và các văn bản hướng dẫn) đã mở rộng đối tượng tham gia, bao gồm cả người làm việc theo hợp đồng lao động từ đủ 01 tháng. Về mức đóng BHXH bắt buộc 2024, tỷ lệ đóng được giữ ổn định, tổng cộng là 32% trên quỹ tiền lương đóng BHXH. Trong đó, người sử dụng lao động đóng 21.5% (gồm 14% vào quỹ hưu trí và tử tuất; 3% vào quỹ ốm đau, thai sản; 0.5% vào quỹ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; 4% vào quỹ BHYT) và người lao động đóng 10.5% (gồm 8% vào quỹ hưu trí và tử tuất; 1.5% vào quỹ BHYT; 1% vào quỹ BHTN). Việc tuân thủ đúng các quy định này là yêu cầu bắt buộc đối với mọi doanh nghiệp. Các dịch vụ tư vấn luật BHXH tại Thái Nguyên ngày càng phát triển để hỗ trợ doanh nghiệp thực hiện đúng nghĩa vụ, tránh các sai sót không đáng có.

II. Thách thức lớn trong thu nợ đọng BHXH tại Thái Nguyên

Bên cạnh những kết quả tích cực, công tác quản lý thu BHXH bắt buộc tại Thái Nguyên vẫn đối mặt với nhiều thách thức, đặc biệt là tình trạng nợ đọng BHXH tại Thái Nguyên. Tình trạng này không chỉ ảnh hưởng đến tính bền vững của quỹ BHXH mà còn xâm phạm trực tiếp đến quyền lợi hợp pháp của người lao động. Theo nghiên cứu giai đoạn 2012-2016, tỷ lệ nợ đọng vẫn còn ở mức đáng quan ngại, tập trung chủ yếu ở khối doanh nghiệp ngoài quốc doanh. Nguyên nhân của thực trạng này rất đa dạng, từ khó khăn trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đến ý thức chấp hành pháp luật chưa cao. Việc một số đơn vị cố tình lách luật, trốn đóng, chậm đóng BHXH đòi hỏi các biện pháp quản lý, thanh tra, kiểm tra BHXH phải được tăng cường mạnh mẽ và quyết liệt hơn nữa để đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật và bảo vệ người lao động.

2.1. Phân tích thực trạng nợ đọng BHXH giai đoạn 2012 2016

Số liệu từ BHXH tỉnh Thái Nguyên cho thấy, mặc dù số thu hàng năm đều tăng và vượt kế hoạch, tình hình nợ đọng BHXH tại Thái Nguyên trong giai đoạn 2012-2016 vẫn là một vấn đề nhức nhối. Tỷ lệ nợ đọng có xu hướng biến động qua các năm, phản ánh những khó khăn của nền kinh tế. Đặc biệt, khối doanh nghiệp ngoài quốc doanh và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chiếm tỷ trọng nợ lớn. Thực trạng này dẫn đến việc phải tiến hành truy thu BHXH đối với nhiều đơn vị, gây tốn kém thời gian và nguồn lực của cơ quan quản lý. Việc nợ đọng kéo dài khiến người lao động không được chốt sổ BHXH khi nghỉ việc, không được hưởng các chế độ ốm đau, thai sản, tai nạn lao động kịp thời, tạo ra những bất ổn trong quan hệ lao động và ảnh hưởng tiêu cực đến an sinh xã hội trên địa bàn.

2.2. Nguyên nhân trốn đóng chậm nộp BHXH cho doanh nghiệp

Nguyên nhân dẫn đến tình trạng chậm nộp BHXH cho doanh nghiệp rất phức tạp. Về khách quan, một số doanh nghiệp gặp khó khăn thực sự trong sản xuất kinh doanh, dẫn đến mất khả năng thanh toán. Tuy nhiên, nguyên nhân chủ quan chiếm phần lớn. Nhiều chủ sử dụng lao động chưa nhận thức đầy đủ trách nhiệm, cố tình trốn đóng hoặc chỉ đóng BHXH trên mức lương tối thiểu, thấp hơn nhiều so với thu nhập thực tế để giảm chi phí. Việc quản lý lao động và tiền lương tại các doanh nghiệp này còn lỏng lẻo, thiếu minh bạch. Một số doanh nghiệp lợi dụng kẽ hở pháp luật, chia nhỏ các khoản thu nhập của người lao động thành lương cơ bản và các khoản phụ cấp không tính đóng BHXH. Thêm vào đó, nhận thức của một bộ phận người lao động còn hạn chế, chưa chủ động đấu tranh đòi quyền lợi cho chính mình, tạo điều kiện cho doanh nghiệp vi phạm.

2.3. Hạn chế trong công tác thanh tra kiểm tra BHXH hiện nay

Công tác thanh tra, kiểm tra BHXH là công cụ quan trọng để phát hiện và xử lý vi phạm, nhưng trên thực tế vẫn còn một số hạn chế. Lực lượng cán bộ thanh tra còn mỏng so với số lượng doanh nghiệp trên địa bàn, dẫn đến tần suất kiểm tra chưa cao. Quy trình thanh tra đôi khi còn phức tạp, kéo dài. Chế tài xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi trốn đóng, nợ đọng BHXH chưa đủ sức răn đe. Mặc dù pháp luật đã cho phép khởi kiện ra tòa các doanh nghiệp nợ BHXH, nhưng thủ tục vẫn còn nhiều vướng mắc. Sự phối hợp giữa cơ quan BHXH và các cơ quan liên quan như Lao động - Thương binh & Xã hội, Thuế, Công an đôi khi chưa thực sự đồng bộ và kịp thời. Những hạn chế này làm giảm hiệu quả của công tác quản lý, khiến tình trạng vi phạm pháp luật BHXH vẫn còn diễn biến phức tạp.

III. Top giải pháp công nghệ tối ưu hóa quy trình thu nộp

Để giải quyết các thách thức trong quản lý thu BHXH, việc ứng dụng công nghệ thông tin là một giải pháp đột phá. Chuyển đổi số giúp minh bạch hóa thông tin, đơn giản hóa thủ tục và nâng cao hiệu quả quản lý. Việc triển khai đồng bộ các phần mềm quản lý BHXH, giao dịch điện tử và các nền tảng số không chỉ giúp cơ quan BHXH tiết kiệm thời gian, nhân lực mà còn tạo điều kiện thuận lợi tối đa cho doanh nghiệp và người lao động trong việc thực hiện nghĩa vụ. Các giải pháp công nghệ hiện đại như BHXH điện tử Thái Nguyên, hệ thống VssID, và Cổng dịch vụ công BHXH Việt Nam đang dần thay đổi bộ mặt của công tác thu nộp, hướng tới một hệ thống quản lý thông minh, hiệu quả và thân thiện hơn.

3.1. Ứng dụng phần mềm quản lý BHXH và hệ thống VssID

Việc sử dụng các phần mềm quản lý BHXH chuyên dụng giúp doanh nghiệp tự động hóa quy trình kê khai, tính toán và quản lý hồ sơ nhân sự. Các phần mềm này tích hợp sẵn các biểu mẫu theo quy định, tự động cập nhật khi có thay đổi về chính sách, giúp giảm thiểu sai sót. Song song đó, ứng dụng hệ thống VssID - BHXH số trên thiết bị di động - là một bước tiến vượt bậc. VssID cho phép người lao động tự tra cứu quá trình tham gia BHXH, BHYT, BHTN của mình một cách nhanh chóng và minh bạch. Điều này trao quyền giám sát cho chính người lao động, giúp họ sớm phát hiện việc doanh nghiệp không đóng hoặc đóng không đủ BHXH, từ đó có cơ sở để đòi hỏi quyền lợi. Sự kết hợp giữa phần mềm tại doanh nghiệp và VssID cho người lao động tạo ra một cơ chế giám sát chéo hiệu quả.

3.2. Lợi ích của BHXH điện tử Thái Nguyên và chữ ký số

Giao dịch BHXH điện tử Thái Nguyên đã trở thành phương thức chủ đạo, thay thế cho việc nộp hồ sơ giấy truyền thống. Doanh nghiệp có thể thực hiện hầu hết các thủ tục như báo tăng, giảm lao động, điều chỉnh mức đóng, đề nghị giải quyết chế độ ngay tại văn phòng thông qua các nhà cung cấp dịch vụ I-VAN. Để đảm bảo tính pháp lý và an toàn cho các giao dịch này, chữ ký số nộp BHXH là công cụ không thể thiếu. Chữ ký số giúp xác thực danh tính của doanh nghiệp, đảm bảo tính toàn vẹn của dữ liệu và có giá trị pháp lý tương đương con dấu và chữ ký tay. Việc áp dụng chữ ký số không chỉ giúp rút ngắn thời gian giao dịch mà còn tăng cường bảo mật, giảm thiểu rủi ro giả mạo hồ sơ, góp phần xây dựng một môi trường giao dịch điện tử an toàn và tin cậy.

IV. Phương pháp cải tiến quy trình thu BHXH bắt buộc hiệu quả

Bên cạnh công nghệ, việc cải tiến các quy trình nghiệp vụ và nâng cao năng lực con người là yếu tố then chốt để hoàn thiện công tác quản lý thu BHXH bắt buộc. Một quy trình thu BHXH bắt buộc hiệu quả phải đảm bảo tính khoa học, chặt chẽ nhưng đồng thời phải linh hoạt và giảm thiểu phiền hà cho đơn vị sử dụng lao động. Điều này đòi hỏi sự thay đổi từ tư duy quản lý đến phương thức thực hiện. Các giải pháp tập trung vào việc tăng cường phối hợp liên ngành, chuẩn hóa quy trình đối soát dữ liệu BHXH, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ và đẩy mạnh công tác tuyên truyền. Mục tiêu cuối cùng là xây dựng một cơ chế quản lý chủ động, có khả năng phòng ngừa vi phạm từ sớm, thay vì chỉ tập trung vào việc xử lý hậu quả.

4.1. Tăng cường quản lý lao động và tiền lương tại doanh nghiệp

Một trong những gốc rễ của việc trốn đóng, đóng thiếu BHXH xuất phát từ sự thiếu minh bạch trong quản lý lao động và tiền lương. Cơ quan BHXH cần phối hợp chặt chẽ hơn với cơ quan Thuế và Sở Lao động - Thương binh & Xã hội để đối chiếu dữ liệu. Dữ liệu về số lượng lao động đăng ký và quỹ lương quyết toán thuế thu nhập cá nhân là nguồn thông tin quan trọng để xác định các doanh nghiệp có dấu hiệu vi phạm. Việc yêu cầu doanh nghiệp xây dựng thang, bảng lương và đăng ký với cơ quan quản lý lao động phải được thực hiện nghiêm túc. Đồng thời, cần tuyên truyền để người lao động hiểu rằng mức lương ghi trong hợp đồng lao động làm căn cứ đóng BHXH ảnh hưởng trực tiếp đến mức hưởng lương hưu và các chế độ sau này, từ đó khuyến khích họ thỏa thuận mức lương thực tế trong hợp đồng.

4.2. Quy trình đối soát dữ liệu BHXH và xử lý sai sót

Để đảm bảo thu đúng, thu đủ, quy trình đối soát dữ liệu BHXH phải được thực hiện thường xuyên và định kỳ. Cơ quan BHXH cần chủ động rà soát, đối chiếu dữ liệu đang quản lý với dữ liệu từ các đơn vị sử dụng lao động và các cơ quan liên quan. Khi phát hiện chênh lệch hoặc sai sót, cần có quy trình xử lý sai sót khi kê khai BHXH rõ ràng và nhanh chóng. Cần gửi thông báo kịp thời cho doanh nghiệp để yêu cầu giải trình và điều chỉnh. Đối với các sai sót nhỏ, cần hướng dẫn đơn vị thực hiện điều chỉnh trực tuyến qua Cổng dịch vụ công BHXH Việt Nam. Đối với các trường hợp cố tình kê khai sai để trốn đóng, cần lập tức chuyển hồ sơ sang bộ phận thanh tra để xử lý theo quy định. Việc chuẩn hóa quy trình này giúp ngăn chặn sai sót tích tụ, giảm thiểu các vụ việc truy thu phức tạp sau này.

4.3. Nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ thu và tuyên truyền

Con người là yếu tố quyết định. Cần thường xuyên tổ chức các lớp tập huấn, đào tạo để nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và kỹ năng giao tiếp cho đội ngũ cán bộ thu. Cán bộ BHXH không chỉ là người thực thi công vụ mà còn là tuyên truyền viên, người tư vấn, hướng dẫn chính sách cho doanh nghiệp. Bên cạnh đó, phải đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền chính sách BHXH đến mọi tầng lớp nhân dân với nội dung và hình thức đa dạng, dễ hiểu. Việc này giúp nâng cao nhận thức của cả người sử dụng lao động và người lao động về quyền lợi và nghĩa vụ khi tham gia BHXH, từ đó tạo sự đồng thuận và tự giác chấp hành pháp luật. Các dịch vụ kê khai BHXH trọn gói cũng có thể là đối tác hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa tuân thủ đúng quy định.

V. Kết quả thực tiễn và bài học từ quản lý thu BHXH

Đánh giá thực trạng quản lý thu BHXH bắt buộc tại Thái Nguyên trong giai đoạn vừa qua cho thấy những kết quả đáng ghi nhận song hành cùng các tồn tại cần khắc phục. Việc phân tích các số liệu cụ thể về phát triển đối tượng, số thu thực tế và tình hình nợ đọng mang lại một bức tranh toàn diện, từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm quý báu. Giai đoạn 2012-2016 chứng kiến sự tăng trưởng ổn định về cả số đơn vị và số lao động tham gia, cho thấy nỗ lực của cơ quan BHXH tỉnh Thái Nguyên trong việc mở rộng diện bao phủ. Tuy nhiên, những con số về nợ đọng cũng là lời cảnh báo về sự cần thiết phải tiếp tục đổi mới và tăng cường các biện pháp quản lý trong thời gian tới.

5.1. Phân tích số liệu thu và phát triển đối tượng tham gia

Theo số liệu thống kê, số đơn vị tham gia BHXH bắt buộc tại Thái Nguyên đã tăng đều qua các năm, từ 3.326 đơn vị năm 2012 lên hàng nghìn đơn vị vào cuối giai đoạn nghiên cứu. Tương ứng, số lao động tham gia cũng tăng mạnh, vượt kế hoạch đề ra hàng năm. Điều này cho thấy công tác tuyên truyền và phát triển đối tượng đã đạt được những thành tựu nhất định. Tổng số tiền thu BHXH cũng tăng trưởng ấn tượng, phản ánh sự gia tăng về cả số lượng người tham gia và quỹ lương làm căn cứ đóng BHXH. Đặc biệt, khối doanh nghiệp ngoài quốc doanh có sự gia tăng đáng kể về số lao động tham gia, khẳng định vai trò ngày càng quan trọng của khu vực kinh tế tư nhân. Những kết quả này là nền tảng vững chắc để tiếp tục mở rộng chính sách an sinh xã hội trên địa bàn tỉnh.

5.2. Hiệu quả từ các giải pháp và bài học kinh nghiệm quý báu

Thành công trong việc tăng số thu và phát triển đối tượng đến từ sự chỉ đạo quyết liệt của BHXH Việt Nam, sự quan tâm của chính quyền địa phương và nỗ lực của tập thể cán bộ BHXH tỉnh. Việc áp dụng công nghệ thông tin bước đầu đã cho thấy hiệu quả trong việc đơn giản hóa thủ tục. Tuy nhiên, bài học lớn nhất rút ra là công tác quản lý cần sự phối hợp đồng bộ và chặt chẽ hơn nữa giữa các ngành. Vấn đề nợ đọng BHXH tại Thái Nguyên cho thấy chỉ riêng nỗ lực của ngành BHXH là không đủ. Cần có một cơ chế liên thông dữ liệu mạnh mẽ và chế tài xử lý vi phạm đủ sức răn đe. Kinh nghiệm cho thấy, việc đối thoại trực tiếp với doanh nghiệp, kết hợp giữa tuyên truyền và thanh tra, kiểm tra mang lại hiệu quả cao hơn so với các biện pháp hành chính đơn thuần. Đây là những bài học cần được phát huy trong giai đoạn tiếp theo.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

04/10/2025
Nghiên cứu giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thu bảo hiểm xã hội bắt buộc của bảo hiểm xã hội tỉnh thái nguyên

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI VÀ QUẢN LÝ THU BẢO HIỂM XÃ HỘI BẮT BUỘC 1. Tổng quan lý thuyết về bảo hiểm xã hội và quản lý thu bảo hiểm xã hội bắt buộc. Tổng quan lý thuyết về bảo hiểm xã hội 1.1 Khái niệm về bảo hiểm xã hội Bảo hiểm và BHXH đã hình thành rất sớm trong lịch sử phát triển của xã hội loài người và đã được nhiều nhà khoa học đề cập và nghiên cứu một cách sâu sắc dưới nhiều góc độ và khía cạnh khác nhau. BHXH đã xuất hiện và phát triển theo cùng với quá trình phát triển kinh tế - xã hội của nhân loại.

Theo tổ chức lao động quốc tế (ILO) thì nước Phổ (nay là Cộng hòa Liên bang Đức) là nước đầu tiên trên thế giới ban hành chế độ BHXH ốm đau vào năm 1883, đánh dấu sự ra đời của BHXH. Đến nay, hầu hết các nước trên thế giới đã thực hiện chính sách BHXH và coi nó là một trong những chính sách xã hội quan trọng nhất trong hệ thống chính sách bảo đảm an sinh xã hội. Mặc dù đã có quá trình phát triển tương đối dài, nhưng cho đến nay còn có nhiều khái niệm về BHXH, chưa có khái niệm thống nhất. Bởi lẽ BHXH là đối tượng nghiên cứu của nhiều môn khoa học khác nhau như kinh tế, xã hội, pháp lý… Theo từ điển Bách khoa: “BHXH là sự đảm bảo, thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho người lao động khi họ mất hoặc giảm thu nhập do bị ốm đau, thai sản, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, tàn tật, thất nghiệp, tuổi già, tử tuất, dựa trên cơ sở một quỹ tài chính do sự đóng góp của các bên tham gia BHXH, có sự bảo hộ của nhà nước theo pháp luật, nhằm đảm bảo, an toàn đời sống cho người lao động và gia đình họ, đồng thời góp phần đảm bảo an toàn xã hội".

Công ước 102 của Tổ chức lao động quốc tế (ILO) đưa ra khái niệm về BHXH như sau: “BHXH là sự bảo vệ xã hội cung cấp cho các thành viên của mình thông qua một loạt các biện pháp công cộng, nhằm chống lại những sự kiện không thuận lợi, những rủi ro xã hội dẫn đến việc ngừng hoặc giảm sút đáng kể về thu nhập gâqy ra bởi ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, thất nghiệp, tàn tật, tuổi già và chết; đồng thời bảo đảm chăm sóc 1 y tế và trợ cấp cho các gia đình đông con”. Khái niệm này đã phản ánh được sự kết hợp hai mặt của BHXH là mặt kinh tế và mặt xã hội. Còn theo khái niệm của BHXH Việt Nam: “BHXH là sự bảo vệ của xã hội đối với người lao động thông qua việc huy động các nguồn đóng góp để trợ cấp cho họ, nhằm khắc phục những khó khăn về kinh tế và xã hội do bị ngừng hoặc bị giảm thu nhập gây ra bởi ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, thất nghiệp, mất khả năng lao động, tuổi già và chết. Đồng thời, bảo đảm chăm sóc y tế cho các thân nhân trong gia đình người lao động, để góp phần ổn định cuộc sống của bản thân người lao động và gia đình, góp phần an toàn xã hội”.

Như vậy có thể khái quát về BHXH như sau: BHXH là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần cho người lao động, khi họ gặp phải những biến cố rủi ro làm suy giảm sức khỏe, mất khả năng lao động, mất việc làm, chết; gắn liền với quá trình tạo lập một quỹ tiền tệ tập trung được hình thành bởi các bên tham gia BHXH đóng góp vào việc sử dụng quỹ đó cung cấp tài chính nhằm đảm bảo mức sống cơ bản cho bản thân người lao động và những người ruột thịt (bố, mẹ, vợ/chồng, con) của người lao động trực tiếp phải nuôi dưỡng, góp phần đảm bảo an toàn xã hội. Khái niệm về thu bảo hiểm xã hội bắt buộc Công tác thu BHXH là một khái niệm phức hợp, bao gồm các định hướng, chủ trương, phương pháp và biện pháp hữu hiệu nhằm nâng cao hiệu quả công tác thu BHXH, chỉ đạo, khuyến khích đẩy mạnh công tác thu BHXH. Theo quy định của pháp luật về BHXH, khi tham gia BHXH bắt buộc, các bên tham gia đều có trách nhiệm đóng góp vào quỹ BHXH bắt buộc. Đây là điều kiện để các đối tượng được hưởng chế độ BHXH, đảm bảo nguyên tắc có đóng BHXH, thì được hưởng chế độ BHXH.

Tổ chức BHXH có trách nhiệm tổ chức thu và quản lý tiền đóng BHXH bắt buộc của người tham giatheo quy định của pháp luật. Thu BHXH luôn gắn với quyền lực của Nhà nước bằng hệ thống pháp luật. Do vậy, có thể hiểu khái niệm thu BHXH bắt buộc như sau: 2 “Thu BHXH bắt buộc là việc Nhà nước dùng quyền lực của mình bắt buộc các đối tượng tham gia phải đóng BHXH theo mức quy định. Trên cơ sở đó hình thành một quỹ tiền tệ tập trung nhằm mục đích đảm bảo cho việc chi trả các chế độ BHXH và hoạt động của tổ chức sự nghiệp BHXH”.

Quản lý thu BHXH bắt buộc 1. Vai trò của thu BHXH bắt buộc Công tác thu BHXH bắt buộc gắn chặt với công tác chi BHXH. Làm tốt công tác thu sẽ góp phần đảm bảo sự ổn định, tăng trưởng quỹ BHXH đồng thời tạo lập nguồn quỹ để chi trả các chế độ BHXH cho NLĐ. Nguồn quỹ BHXH được coi là xương sống của hệ thống BHXH, quỹ BHXH là cơ sở quan trọng và quyết định mọi hoạt động của cơ quan BHXH.

Vì vậy, công tác thu BHXH bắt buộc phải được đặt lên hàng đầu. Thu BHXH bắt buộc có vai trò định hướng đề ra chiến lược dài hạn, trung hạn, ngắn hạn đối với toàn bộ hệ thống nhằm đạt được mục tiêu đề ra trong công tác thu BHXH và góp phần khắc phục sự sai lệch của hệ thống thông qua công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát. Vì quá trình thực hiện giữa kết quả với mục tiêu đề ra luôn có sự sai lệch, để kết quả này gần với mục tiêu thì công tác thu mới đạt hiệu quả. Cơ sở pháp lý thực hiện công tác thu BHXH bắt buộc a.

Những cơ sở pháp lý chính điều chỉnh công tác thu BHXH bắt buộc Thực hiện Nghị quyết đại hội VII và hiến pháp năm 1992, ngày 23/6/1994 Bộ Luật lao động đã Quốc hội thông qua trong đó giành cả chương XII để quy định về BHXH và có quy định “Loại hình tham gia BHXH áp dụng đối với doanh nghiệp có sử dụng từ 10 lao động trở lên, ở những doanh nghiệp này, người sử dụng lao động, người lao động phải đóng BHXH theo quy định…”; “Người lao động làm việc ở những nơi sử dụng lao động dưới 10 lao động hoặc làm những công việc có thời hạn dưới 3 tháng, theo mùa vụ hoặc làm các công việc tạm thời khác, thì các khoản BHXH được tính vào tiền lương do người sử dụng lao động trả để người lao động tham gia BHXH theo loại hình tự nguyện hoặc tự lo liệu về bảo hiểm”. 3 Ngày 26/1/1995, Chính phủ ban hành điều lệ BHXH kèm theo Nghị định số 12CP, trong đó quy định rõ về đối tượng tham gia BHXH và tỷ lệ thu BHXH như: Người lao động làm việc trong các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh có sử dụng từ 10 lao động trở lên thuộc đối tượng phải áp dụng các chế độ BHXH theo quy định. Với tỷ lệ thu BHXH là 20%, trong đó người sự dụng lao động 15% tổng quỹ tiền lương, người lao động 5% tiền lương tháng. Theo đó, Bộ Tài chính có Thông tư số 58/TT-BTC hướng dẫn quy định tạm thời về tài chính BHXH, trong đó quy định cụ thể về đối tượng, quy trình quản lý thu BHXH.

Mặt khác, để phù hợp với tình hình kinh tế phát triển của đất nước Chính phủ tiếp tục quy định đối tượng lao động hợp tác có thời hạn ở nước ngoài theo quy định tại nghị định số 152/2000/NĐ-CP ; Các chức danh thuộc xã, phường, thị trấn theo quy định tại Nghị định số 09/2008/NĐ-CP ngày 03/01/1998; người lao động làm việc tại các cơ sở giáo dục, y tế, văn hóa và thể thao theo quy định tại Nghị định số 73/1999/NĐ-CP ngày 19/8/1999… Ngày 11/11/2015 Chính phủ ban hành Nghị định số 115/2015/NĐ-CP đã quy định đối tượng áp dụng BHXH bắt buộc như sau: Người lao động là công dân Việt Nam tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc theo quy định tại Nghị định này, bao gồm: Người làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, hợp đồng lao động xác định thời hạn, hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn từ đủ 03 tháng đến dưới 12 tháng, kể cả hợp đồng lao động được ký kết giữa người sử dụng lao động với người đại diện theo pháp luật của người dưới 15 tuổi theo quy định của pháp luật về lao động; Người làm việc theo hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ 01 tháng đến dưới 03 tháng; Cán bộ, công chức, viên chức theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức và viên chức; Công nhân quốc phòng, công nhân công an, người làm công tác khác trong tổ chức cơ yếu; 4 Người quản lý doanh nghiệp, người quản lý điều hành hợp tác xã có hưởng tiền lương; Người hoạt động không chuyên trách ở xã, phường, thị trấn; Người hưởng chế độ phu nhân hoặc phu quân tại cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài quy định tại Khoản 4 Điều 123 của Luật Bảo hiểm xã hội. Người đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng quy định tại Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc theo quy định tại Nghị định này được áp dụng đối với các hợp đồng sau: Hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài với doanh nghiệp hoạt động dịch vụ đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài, tổ chức sự nghiệp được phép đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài; Hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài với doanh nghiệp trúng thầu, nhận thầu hoặc tổ chức, cá nhân đầu tư ra nước ngoài có đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài; Hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hình thức thực tập nâng cao tay nghề với doanh nghiệp đưa người lao động đi làm việc theo hình thức thực tập nâng cao tay nghề; b.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ