phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 04 chương: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý tài chính bệnh viện. Chƣơng 2: Phương pháp nghiên cứu. Chƣơng 3: Thực trạng quản lý tài chính ở Bệnh viện đa khoa thị xã Phú Thọ trong những năm gần đây. Chƣơng 4: Một số giải pháp hoàn thiện công tác quản lý tài chính tại Bệnh viện đa khoa thị xã Phú Thọ 2014-2020.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn/ 6 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN QUẢN LÝ TÀI CHÍNH BỆNH VIỆN 1. Khái niệm, vai trò và mục tiêu quản lý tài chính bệnh viện Quản lý tài chính bệnh viện theo nghĩa rộng là sự tác động liên tục có hướng đích, có tổ chức của các nhà quản lý bệnh viện lên đối tượng và quá trình hoạt động tài chính của bệnh viện nhằm xác định nguồn thu và các khoản chi, tiến hành thu chi theo đúng pháp luật, đúng các nguyên tắc của Nhà nước về tài chính, đảm bảo kinh phí cho mọi hoạt động của bệnh viện. Ở Việt Nam, quản lý tài chính bệnh viện là một nội dung của chính sách kinh tế - tài chính y tế, do Bộ Y tế chủ trương với trọng tâm là sử dụng các nguồn lực đầu tư cho ngành y tế, để cung cấp các dịch vụ y tế một cách hiệu quả và công bằng. Tính hiệu quả chú trọng đến trình độ trang thiết bị kỹ thuật, phương pháp phân phối nguồn lực, hiệu lực quản lý hành chính và chất lượng dịch vụ y tế cung cấp cho nhân dân, sử dụng nguồn vốn thật hiệu quả trong quản lý tài sản, trang thiết bị, vật tư của bệnh viện để phục vụ công tác khám chữa bệnh, đào tạo, nghiên cứu khoa học và chỉ đạo tuyến.
Sử dụng các nguồn chi hiệu quả thực hành tiết kiệm chống lãng phí. Tính công bằng đòi hỏi cung cấp dịch vụ y tế bằng nhau cho những người có mức độ bệnh tật như nhau, thoả mãn nhu cầu khám chữa bệnh của mọi người khi đến bệnh viện, theo một mặt bằng chi phí nhất định không mà không đòi hỏi khả năng chi trả của người bệnh là điều kiện tiên quyết, không phân biệt đối xử với người bệnh khi đến khám và điều trị bệnh tại bệnh viện, thực hiện chính sách ưu tiên với các đối tượng ưu đãi xã hội và người nghèo. Do vậy, quản lý tài chính trong bệnh viện ở Việt Nam được định nghĩa là việc quản lý toàn bộ các nguồn vốn, tài sản, vật tư của bệnh viện để phục vụ nhiệm vụ khám chữa bệnh, đào tạo, nghiên cứu khoa học và chỉ đạo tuyến. Quản lý tài chính trong bệnh viện của Việt Nam gồm: Sử dụng, quản lý các nguồn kinh phí ngân sách Nhà nước cấp và các nguồn được coi là ngân sách Nhà nước cấp như viện phí, bảo hiểm y tế, viện trợ… theo đúng quy định của Nhà nước.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn/ 7 Tăng nguồn thu hợp pháp, cân đối thu chi, sử dụng các khoản chi có hiệu quả, chống lãng phí, thực hành tiết kiệm. Thực hiện chính sách ưu đãi và đảm bảo công bằng về khám, chữa bệnh cho các đối tượng ưu đãi xã hội và người nghèo. Từng bước tiến tới hạch toán chi phí và giá thành khám chữa bệnh. Mục tiêu của quản lý tài chính trong bệnh viện Hiệu quả thực hiện của tài chính kế toán là mục tiêu quan trọng của quản lý tài chính bệnh viện.
Các yếu tố của mục tiêu này bao gồm: Duy trì cán cân thu chi: Đây là điều kiện tiên quyết và bắt buộc của quản lý tài chính bệnh viện và cũng là tiêu chuẩn cho sự thành công trong cơ chế quản lý mới - tiến tới hạch toán chi phí. Bệnh viện phải cải thiện chất lượng khám chữa bệnh thông qua một số chỉ tiêu chuyên môn như: tỉ lệ tử vong, … Nhân viên hài lòng với bệnh viện: Đời sống cán bộ công nhân viên được cải thiện, cải thiện phương tiện làm việc, xây dựng văn hóa bệnh viện. Bệnh viện phát triển cơ sở vật chất, phát triển các chuyên khoa. Công bằng y tế: Chất lượng phục vụ như nhau cho toàn bộ các đối tượng Như vậy, quản lý tài chính bệnh viện phải đáp ứng cùng lúc bốn đối tác: Người bệnh, nhân viên trong bệnh viện, ban giám đốc bệnh viện và Nhà nước, đó là: ● Với bệnh nhân: Chất lượng chăm sóc và công bằng y tế.
● Với nhân viên: Được hài lòng do đời sống được cải thiện. ● Yêu cầu của ban giám đốc: Hoàn thành trách nhiệm thực hiện cán cân thu chi. ● Y tế Nhà nước : Phát triển bệnh viện. Nhìn chung trong điều kiện kinh tế nước ta như hiện nay, mục tiêu của quản lý tài chính bệnh viện phải cùng lúc đạt được năm mục tiêu trên.
Tuy nhiên ở một số vùng sâu, vùng xa, gặp nhiều khó khăn thì phải sắp xếp thứ tự của ưu tiên nào cần phấn đấu trước. Nội dung quản lý tài chính bệnh viện Quy trình quản lý tài chính trong bệnh viện ở Việt Nam gồm 4 bước: Lập dự toán thu chi. Thực hiện dự toán. Thanh tra, kiểm tra, đánh giá.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www. Lập dự toán thu chi Lập dự toán thu chi các nguồn kinh phí của bệnh viện, là thông qua các nghiệp vụ tài chính để cụ thể hoá định hướng phát triển, kế hoạch hoạt động ngắn hạn của bệnh viện, trên cơ sở tăng nguồn thu hợp pháp và vững chắc, đảm bảo được hoạt động thường xuyên của bệnh viện, đồng thời từng bước củng cố và nâng cấp cơ sở vật chất của bệnh viện, tập trung đầu tư đúng mục tiêu ưu tiên nhằm đạt hiệu quả cao, hạn chế tối đa lãng phí và tiêu cực, từng bước tính công bằng trong sử dụng các nguồn đầu tư cho bệnh viện. Khi xây dựng dự toán thu chi của bệnh viện cần căn cứ vào: - Phương hướng nhiệm vụ của đơn vị. - Chỉ tiêu, kế hoạch có thể thực hiện được.
- Kinh nghiệm thực hiện các năm trước. - Khả năng ngân sách nhà nước cho phép. - Khả năng cấp vật tư của Nhà nước và của thị trường. - Khả năng tổ chức quản lý và kỹ thuật của đơn vị.
Các nguồn tài chính của bệnh viện a. Ngân sách nhà nước cấp (Kinh phí thường xuyên) Có nhiều cách định nghĩa khác nhau về ngân sách Nhà nước cấp cho bệnh viện ở Việt Nam. Nhìn chung, các nguồn đầu tư kinh phí cho bệnh viện thông qua kênh phân bổ của Chính phủ được coi là ngân sách nhà nước cấp cho bệnh viện. Theo đó, ngân sách cho bệnh viện có thể bao gồm chi sự nghiệp và đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nước, chi từ bảo hiểm y tế, thu viện phí và viện trợ nước ngoài… Tuy nhiên, nguồn ngân sách nhà nước cấp cho bệnh viện ở đây được định nghĩa, là khoản chi cho bệnh viện từ ngân sách nhà nước cấp cho sự nghiệp y tế, cân đối từ nguồn thuế trực thu và thuế gián thu.
Bao gồm các khoản chi đầu tư, chi vận hành hệ thống. Đối với các nước đang phát triển, nguồn ngân sách nhà nước cấp là nguồn tài chính quan trọng nhất cho hoạt động của bệnh viện. Ở Việt Nam, cho đến nay, hàng năm các bệnh viện công nhận được một khoản kinh phí được cấp từ ngân sách của Chính phủ, căn cứ theo định mức tính cho một đầu giường bệnh/năm nhân với số Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn/ 9 giường bệnh kế hoạch của bệnh viện. Số kinh phí này thường đáp ứng được từ 30 đến 50% nhu cầu chi tiêu tối thiểu của bệnh viện.
Nguồn thu viện phí và bảo hiểm y tế Theo quy định của Bộ Tài chính nước ta, nguồn thu viện phí và bảo hiểm y tế là một phần ngân sách sự nghiệp y tế của Nhà nước giao cho bệnh viện quản lý và sử dụng để đảm bảo chất lượng khám, chữa bệnh cho nhân dân. Nguồn thu viện phí và bảo hiểm y tế thường đảm bảo được từ 20-30% nhu cầu chi tiêu tối thiểu của các bệnh viện công. Tuy nhiên cho đến nay ở nước ta, các cơ sở khám, chữa bệnh trong hệ thống y tế Nhà nước chỉ được phép thu một phần viện phí. Một phần viện phí là một phần trong tổng chi phí cho việc khám chữa bệnh.
Một phần viện phí chỉ tính tiền thuốc, dịch truyền, máu, hoá chất, xét nghiệm, phim X quang, vật tư tiêu hao thiết yếu và dịch vụ khám chữa bệnh; không tính khấu hao tài sản cố định, chi phí hành chính, đào tạo, nghiên cứu khoa học, đầu tư xây dựng cơ sở vật chất và trang thiết bị lớn. Hiện nay, giá viện phí do Chính quyền cấp tỉnh của từng địa phương quy định dựa trên một khung giá tối đa tối thiểu đã được Bộ Y tế và Bộ Tài chính phê duyệt. Đối với người bệnh ngoại trú, biểu giá thu viện phí được tính theo lần khám bệnh và các dịch vụ kỹ thuật mà người bệnh trực tiếp sử dụng. Đối với người bệnh nội trú, biểu giá thu viện phí được tính theo ngày giường nội trú của từng chuyên khoa theo phân hạng bệnh viện và các khoản chi phí thực tế sử dụng trực tiếp cho người bệnh.
Đối với khám chữa bệnh theo yêu cầu thì mức thu được tính trên cơ sở mức đầu tư của bệnh viện và cũng phải được cấp có thẩm quyền phê duyệt. Đối với người có thẻ Bảo hiểm y tế thì cơ quan bảo hiểm thanh toán viện phí của bệnh nhân cho bệnh viện. Tuy nhiên ở Việt Nam mới chỉ phổ biến loại hình bảo hiểm y tế bắt buộc áp dụng cho các đối tượng công nhân viên chức làm công ăn lương trong các cơ quan Nhà nước và các doanh nghiệp. Các loại hình bảo hiểm khác chưa được triển khai một cách phổ biến.
Hiện nay, với chủ trương xã hội hoá các hoạt động chăm sóc sức khoẻ của Đảng và Nhà nước, các loại hình bệnh viện và cơ sở y tế bán công ngoài công lập ra đời với cơ chế tài chính chủ yếu dựa vào nguồn thu viện phí và bảo hiểm y tế. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www. Nguồn viện trợ và các nguồn thu khác Nguồn viện trợ và các nguồn thu khác cũng được Chính phủ Việt Nam quy định là một phần ngân sách của Nhà nước giao cho bệnh viện quản lý và sử dụng. Tuy nhiên bệnh viện thường phải chi tiêu theo định hướng những nội dung đã định từ phía nhà tài trợ.