MỞ ĐẦU Rừng là bộ phận quan trọng nhất của sinh quyển và có ý nghĩa lớn trong sự phát triển kinh tế, xã hội, sinh thái và môi trường. Tài nguyên rừng trên Trái Đất ngày càng bị thu hẹp về diện tích và chất lượng, trong đó rừng nhiệt đới bị suy giảm với tốc độ lớn nhất. Với vai trò không thể thay thế của rừng nên con người phải bảo vệ và sử dụng hợp lý tài nguyên rừng trên quy mô toàn cầu cũng như ở các cấp độ địa phương. Ở Việt Nam, ngoài ý nghĩa chung thì rừng còn mang các ý nghĩa lịch sử, văn hoá và tâm linh của nhiều cộng đồng dân tộc khác nhau.
Công tác bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng Việt Nam đã có những nỗ lực rất lớn từ việc thành công trong công tác định canh - định cư, thành lập các Vươn Quốc gia, khu bảo tồn cùng với việc ban hành luật Bảo vệ và phát triển rừng đã mang lại những thay đổi tích cực. Song một diện tích lớn rừng và đất rừng, đặc biệt là ở khu vực miền núi gắn liền với các cộng đồng người dân tộc thiểu số chưa thực sự được quản lý và sử dụng hợp lý để nâng cao đời sống cho người dân. Đề tài nhằm mục tiêu góp phần bảo vệ và phát triển bền vững tài nguyên rừng gắn liền với các cộng đồng ở miền núi để nâng cao đời sống một cách bền vững cho người dân. Bao gồm các mục tiêu cụ thể sau: - Phân tích đặc điểm rừng cộng đồng tại địa bàn nghiên cứu.
- Phân tích hiện trạng sử dụng và quản lý. - Phân tích SWOT đối với sử dụng và quản lý rừng cộng đồng. - Đề xuất giải pháp quản lý và sử dụng hợp lý rừng cộng đồng. Nghiên cứu này sẽ là một cơ sở hữu ích cho công tác lập kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội tại địa bàn nghiên cứu và làm phong phú những nghiên cứu thực tiễn trong công tác quản lý rừng cộng đồng.
Đặc biệt, nghiên cứu này có ý nghĩa quan trọng trong quá trình học tập và bước đầu trong công tác nghiên cứu khoa học dưới sự hướng dẫn của các giáo sư, tiến sĩ để làm nền tảng phát triển bản thân sau khi hoàn thành chương trình thạc sỹ về khoa học môi trường với chuyên ngành môi trường trong phát triển bền vững do Trung tâm nghiên cứu tài nguyên và môi trường tổ chức đào tạo. 1 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở lý luận của đề tài 1. Các khái niệm Khái niệm về cộng đồng Theo FAO 2000, cộng đồng trong khái niệm về quản lý rừng cộng đồng được giới hạn là tập hợp của các cá nhân trong một thôn bản gần rừng, gắn bó chặt chẽ với nhau qua hoạt động sản xuất, sinh hoạt và đời sống văn hoá xã hội.
Ở Việt Nam, khái niệm “cộng đồng” được dùng trong lĩnh vực quản lý tài nguyên rừng có thể khái quát thành hai quan điểm chính: - Thứ nhất, “cộng đồng” là tập hợp những người sống gắn bó với nhau thành một xã hội nhỏ có những quan điểm tương đồng về mặt văn hoá, kinh tế, xã hội truyền thống, phong tục tập quán, có các quan hệ trong đời sống và sản xuất gắn bó với nhau và thường có ranh giới không gian một thôn bản. - Thứ hai, “cộng đồng” không chỉ là cộng đồng dân cư toàn thôn mà còn bao gồm cả cộng đồng sắc tộc; cộng đồng các dòng họ hoặc các nhóm hộ trong thôn. Các loại hình cộng đồng chính: cộng đồng thôn bản; cộng đồng sắc tộc; cộng đồng tôn giáo và cộng đồng theo các dòng họ. Dân tộc thiểu số Là một thuật ngữ khoa học chỉ những dân tộc có dân số ít trong một quốc gia nhất định.
Tại Việt Nam có 54 cộng đồng dân tộc thì có 53 cộng đồng là những cộng đồng dân tộc thiểu số. Cộng đồng dân tộc thiểu số được xác định trong phạm vi nghiên cứu nhóm người có cùng dân tộc, chung sống trên địa bàn thôn bản. Lâm nghiệp cộng đồng Theo Arnold 1992, đã đưa ra một định nghĩa tổng quát: LNCĐ là một thuật ngữ bao trùm hàng loạt các hoạt động gắn kết người nông dân thôn bản với cây và rừng cũng như các sản phẩm và lợi ích thu được từ rừng. 2 Hiện nay, ở Việt Nam có những quan điểm khác nhau về LNCĐ và chưa có một định nghĩa chính thức nào được công nhận.
Tuy nhiên, mọi người đều cho rằng có hai hình thức quản lý rừng cộng đồng phù hợp với định nghĩa của Arnold là Quản lý rừng cộng đồng và quản lý rừng dựa vào cộng đồng. Quản lý rừng cộng đồng (QLRCĐ) QLRCĐ là hình thức mà mọi thành viên của cộng đồng tham gia quản lý và ăn chia sản phẩm hoặc hưởng lợi từ những khu rừng thuộc quyền quản lý, sử dụng, sở hữu của cộng đồng hoặc thuộc quyền sử dụng chung của cộng đồng. Rừng cộng đồng là rừng của thôn bản đã được quản lý theo truyền thống trước đây (quản lý theo luật tục truyền thống), rừng trồng của các hợp tác xã, rừng tự nhiên đã được giao cho các hợp tác xã trước đây mà sau khi chuyển đổi hoặc giải thể, hợp tác xã đã giao lại cho xã hoặc các thôn quản lý. Quản lý rừng dựa vào cộng đồng Là hình thức cộng đồng tham gia quản lý các khu rừng không thuộc quyền quản lý, sử dụng, sở hữu chung của họ mà thuộc quyền quản lý, sử dụng, sở hữa của các thành phần khác như có quan hệ trực tiếp tới đời sống,việc làm, thu hoạch sản phẩm, thu nhập hay lợi ích khác của cộng đồng.
Như vậy, nghiên cứu và đề xuất giải pháp quản lý rừng cộng đồng tại Ngân Sơn - Bắc Kạn được xác định trên cơ sở rừng cộng đồng tại địa phương trên cơ sở tiếp cận LNCĐ. Pháp luật và chính sách Hệ thống pháp luật quy định quyền sở hữu và sử dụng đối với rừng và đất rừng cho các thành phần kinh tế. Hệ thống chính sách xác định những biện pháp hỗ trợ và khuyến khích cho phát triển rừng từ phía chính phủ. Theo Nguyễn Bã Ngãi 2009, pháp luật và chính sách cơ bản cho quản lý rừng cộng đồng được thể hiện trong Luật đất đai và Luật bảo vệ và phát triển rừng và các văn bản chính sách khác với những nội dung cụ thể như sau: 3 - Cộng đồng dân cư là chủ rừng, người sử dụng rừng có tư cách pháp nhân đầy đủ hoặc không đầy đủ tuỳ theo từng điều kiện của mỗi cộng đồng và đối tượng rừng được giao hay nhận khoán.
- Cộng đồng được giao đất, giao rừng, nhận hợp đồng khoán rừng lâu dài khi đáp ứng các quy định của pháp luật và chính sách hiện hành như: Khu rừng hiện được cộng đồng dân cư đang quản lý sử dụng có hiệu quả; khu rừng giữ nguồn nước phục vụ lợi ích chung của cộng đồng; khu rừng giáp ranh giữa các thôn, xã, huyện không thể giao cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhận mà cần giao cho cộng đồng dân cư thôn để phục vụ lợi ích của cộng đồng. - Cộng đồng được hưởng các quyền khi tham gia quản lý rừng theo quy định của pháp luật: Được công nhận quyền sử dụng rừng ổn định, lâu dài phù hợp với hạn giao rừng; Được khai thác, sử dụng lâm sản và các lợi ích khác của rừng vào mục đích cộng đồng và gia dụng cho thành viên trong cộng đồng; Được sản xuất nông nghiệp – lâm nghiệp – ngư nghiệp kết hợp; Được hưởng thành quả lao động, kết quả đầu tư trên diện tích rừng được giao; Được hướng dẫn kỹ thuật; hỗ trợ về vốn theo chính sách của nhà nước để bảo vệ và phát triển rừng và được hưởng lợi ích do các công trình công cộng bảo vệ, cải tạo rừng mang lại; được bồi thường thành quả lao động, kết quả đầu tư để bảo vệ và phát triển rừng khi nhà nước có quyết định thu hồi rừng. - Cộng đồng thực hiện nghĩa vụ khi tham gia quản lý rừng theo quy định của pháp luật như: Xây dựng quy ước bảo vệ và phát triển rừng; Tổ chức bảo vệ và phát triển rừng; Định kỳ báo cáo cơ quan nhà nước có thẩm quyền về diễn biến tài nguyên rừng và các hoạt động liên quan đến khu rừng; Thực hiện nghĩa vụ tài chính và các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật; Giao lại rừng khi nhà nước có quyết định thu hồi hoặc khi hết thời hạn giao rừng; Không được phân chia rừng cho các thành viên trong cộng đồng dân cư thôn; Không đươc chuyển đổi, chuyển nhượng, tặng, cho thuê, thế chấp, bảo lãnh, góp vốn kinh doanh bằng giá trị quyền sử dụng rừng được giao. Hiện trạng về vấn đề nghiên cứu 1.
Các công trình đã nghiên cứu Công tác nghiên cứu về quản lý rừng cộng đồng đã được nhiều tác giả, nhà nghiên cứu tiến hành trên nhiều phương diện và những quy mô khác nhau. Trong đó điểm hình là những công trình nghiên cứu như: “Nghiên cứu quản lý rừng cộng đồng của đồng bào dân tộc thiểu số vùng núi phía Bắc”, “Quản lý rừng cộng đồng ở Việt Nam: Thực trạng, vấn đề và giải pháp” của TS. Nguyễn Bá Ngãi; nghiên cứu về “Xây dựng quy chế hưởng lợi trong quản lý rừng cộng đồng” của TS. Bảo Huy hay nghiên cứu “Quản lý rừng cộng đồng ở Hoà Bình – Các giải pháp” của Trần Duy Rương - Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam và nghiên cứu “ Một số kinh nghiệm trong quản lý rừng cộng đồng từ dự án CEFM” của Nguyễn Văn Mạn - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên.
Các nghiên cứu đã chỉ ra diện tích rừng và đất rừng mà các cộng đồng dân cư trên cả nước đang quản lý và sử dụng vào khoảng 2.946,3 ha chiếm 17,2% diện tích đất quy hoạch cho mục đích lâm nghiệp trên toàn quốc, trong đó: 1.169,2 ha đất có rừng (chiếm 68,6%) và 876.777,1 ha đất trống đồi trọc (chiếm 31,4%) xem hình 1. Có 3 hình thức mà cộng đồng quản lý và sử dụng đất lâm nghiệp là: - Thứ nhất, rừng và đất rừng sử dụng vào mục đích lâm nghiệp được cơ quan Nhà Nước có thẩm quyền giao cho cộng đồng quản lý, sử dụng lâu dài ( có quyết định hoặc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và rừng) với 58,8% diện tích đất lâm nghiệp do cộng đồng quản lý và sử dụng xem hình 1. Trong đó, phần lớn cộng đồng được giao quản lý, bảo vệ nuôi dưỡng những khu rừng phục hồi sau nương rẫy hoặc sau khai thác kiệt.