CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu Lâm nghiệp cộng đồng được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau: Những định nghĩa rộng dùng thuật ngữ này để chỉ những hoạt động có liên quan đến mối quan hệ giữa con người với cây cối; những định nghĩa hẹp tập trung vào việc quản lý rừng bởi cộng đồng địa phương có lợi ích của mình. Khái niệm quản lý rừng cộng đồng (Community Forest Management- CFM) là một phương thức nhằm duy trì và phát triển rừng cũng như giải quyết vấn đề đói nghèo ở vùng cao, một nguyên nhân gốc rễ làm suy giảm tài nguyên rừng ở các quốc gia. Quản lý rừng cộng đồng dựa trên quan điểm “Con người trước và lâm nghiệp bền vững theo sau”, nó trao cho các cộng đồng quyền và trách nhiệm trực tiếp quản lý và hưởng lợi từ tài nguyên rừng.
Quan điểm này cho thấy Quản lý rừng cộng đồngnhắc đến việc phân cấp quản lý rừng một cách mạnh mẽ trong đó nhấn mạnh đến giao quyền quản lý các khu rừng và cơ hội cho người dân cộng đồng có được hưởng lợi từ rừng. Khivấn đề đói nghèo và mất công bằng trong tiếp cận nguồn tài nguyên được giải quyết thì các cộng đồng thôn, bản sẽ nhận ra trách nhiệm của chính họ trong việc quản lý bảo vệ rừng, điều này được nhiều chính phủ, tổ chức phi chính phủ nhận thức rõ ràng, từ đó đã thúc đẩy cho tiến trình này phát triển ở nhiều cộng đồng sống phụ thuộc vào rừng. Trong những năm gần đây, để khẳng định hơn tính sở hữu và làm chủ trong quản lý tài nguyên rừng, khái niệm Quản lý rừng cộng đồngđã được phân định rõ hơn “Quản lý rừng cộng đồng là bao gồm tất cả các hoạt động, tổ chức thu hút cộng đồng tham gia quản lý rừng và được chia sẻ lợi ích từ nguồn tài nguyên” (Rodrigues, 2004). Quản lý rừng cộng đồng là một trong những mô hình của lâm nghiệp xã hội hay lâm nghiệp cộng đồng, đã và đang được chú trọng, quan tâm trong chiến lược phát triển lâm nghiệp của nhiều nước trên thế giới.
Trong 4 mô hình này, người dân địa phương có trách nhiệm trực tiếp trong các hoạt động quản lý bảo vệ rừng và nhận được những lợi ích cho những đóng góp mà họ đã bỏ ra trong quá trình hoạt động (Donald và cộng sự,1993). Theo FAO (1978), Lâm nghiệp cộng đồng (Community Forestry), lâm nghiệp xã hội (Social Forestry) là những thuật ngữ được dùng để chỉ việc quản lý rừng có liên quan chặt chẽ với người dân địa phương. Ở Việt Nam đã có những cuộc hội thảo Quốc gia về rừng cộng đồng tuy nhiên đến nay chưa có một sự thống nhất nào cho thuật ngữ này. Năm 1998, Arnold định nghĩa tổng quát về lâm nghiệp cộng đồng là một thuật ngữ bao trùm hàng loạt các hoạt động gắn kết người dân nông thôn với cây và rừng cũng như các sản phẩm và lợi ích thu được từ cây rừng.
Quản lý rừng cộng đồng hay quản lý rừng dựa vào cộng đồng được hiểu là sự tham gia của người dân địa phương, nhóm hộ hay từng hộ gia đình trong quản lý, bảo vệ và sử dụng rừng, đất rừng cộng đồng, quản lý rừng trực tiếp của cộng đồng cũng như quản lý rừng của các tổ chức khác. Quản lý lâm nghiệp cộng đồng là việc quản lý những tập hợp cây cối của các nhóm người, có tính chất giới hạn và là một phương pháp chỉ áp dụng cho đất lâm nghiệp, không có sự tham gia trực tiếp của kỹ thuật nông nghiệp cũng như khuyến nông. Quản lý rừng cộng đồng ở Việt Nam là sự tham gia của cộng đồng địa phương trong việc quản lý, tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định, những diện tích rừng do cộng đồng trực tiếp quản lý, sử dụng chung được Nhà nước giao hoặc thuộc quyền quản lý truyền thống hay những diện tích rừng của các tổ chức Nhà nước khác thông qua các hợp đồng khoán. Quản lý rừng cộng đồng là cộng đồng quản lý rừng thuộc sở hữu của cộng đồng hoặc quyền sử dụng chung của cộng đồng.
Cộng đồng là một trong những chủ thể tham gia trực tiếp quản lý tài nguyên rừng cộng đồng và được hưởng lợi từ mô hình rừng cộng đồng (Chu Thị Sang, 2007). 5 Tóm lại, quản lý rừng cộng đồng cần được nhìn nhận là một cách quản lý để đạt được mục tiêu quản lý, sử dụng và bảo vệ nguồn tài nguyên rừng bền vững hiện còn và cho phép người dân địa phương có quyền quản lý, sử dụng lâu dài các nguồn tài nguyên rừng, lợi ích thu được thuộc về người dân địa phương và được sử dụng cho sự phát triển nông thôn, được hình thành trên cơ sở kiến thức bản địa của người dân địa phương. Các nguyên tắc trong công tác quản lý rừng cộng đồng - Đơn giản: Để mọi người đều hiểu rõ vấn đề đang xảy ra và có thể thực hiện. - Có sự tham gia của người dân: Các hoạt động độc lập tiếp nối quy trình lập kế hoạch chỉ có thể được thực hiện thành công nếu người dân liên quan được tham gia đầy đủ vào các quy trình ra quyết định và hiểu rõ kết quả cuối cùng của quá trình lập kế hoạch.
Nếu người dân không quan tâm đến công tác quản lý rừng và không thể hiện được vai trò chủ động của mình trong quá trình ra quyết định thì kết quả đạt được không cao hoặc thất bại trong khi thực hiện. - Hiệu quả về chi phí: Đảm bảo thực hiện được các quy trình quản lý rừng cộng đồng chỉ với nguồn lực sẵn có của địa phương. - Tính tương ứng: Đảm bảo quy trình lập kế hoạch quản lý rừng cộng đồng chỉ cung cấp các thông tin cần thiết cho công tác quản lý rừng; tăng cường quản lý bền vững các nguồn tài nguyên rừng, đồng thời giảm thiểu các tác động tiêu cực có thể xảy ra trong tương lai; phản ánh nhu cầu của người dân địa phương trong đánh giá và sử dụng các nguồn tài nguyên rừng và không chỉ đơn thuần sử dụng biện pháp cấm khai thác các loại lâm sản. Quản lý rừng cộng đồng chỉ có thể trở lên bền vững nếu các quy trình phù hợp với khuôn khổ chính sách, pháp luật hiện hành.
Cơ sở pháp lý trong quản lý rừng cộng đồng Luật Lâm nghiệp 2017 tại Điều 86 quy định: Cộng đồng dân cư được giao rừng tín ngưỡng, rừng phòng hộ, rừng sản xuất có các quyền sau đây: 6 Được Nhà nước bảo đảm kinh phí bảo vệ và phát triển rừng đặc dụng, rừng phòng hộ giao cho cộng đồng dân cư; Được hướng dẫn sản xuất lâm, nông, ngư nghiệp kết hợp, canh tác dưới tán rừng, chăn thả gia súc theo Quy chế quản lý rừng; được hỗ trợ phát triển kinh tế rừng, hỗ trợ phục hồi rừng bằng cây lâm nghiệp bản địa; Được khai thác lâm sản trong rừng đặc dụng là rừng tín ngưỡng quy định tại Điều 52, rừng phòng hộ quy định tại Điều 55, rừng sản xuất là rừng tự nhiên quy định tại Điều 58, rừng sản xuất là rừng trồng theo quy định tại Điều 59 của Luật này; và được chia sẻ lợi ích từ rừng theo các chính sách của Nhà nước; được sở hữu những cây trồng, vật nuôi và tài sản khác trên đất trồng rừng do chủ rừng đầu tư. Luật Đất đai 2013 đã công nhận cộng đồng dân cư thôn, bản là một đối tượng được giao, công nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp và chính cộng đồng thôn, bản là một trong những nhân tố quan trọng, tích cực trong hệ thống quản lý rừng. Hình thức Quản lý rừng cộng đồng là một cách thức quản lý rừng hợp pháp, đã được quy định và hướng dẫn trong các văn bản chính sách và pháp luật của Nhà nước về lâm nghiệp như sau: Quyết định số 18/2007/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ Phê duyệt Chiến lược phát triển lâm nghiệp Việt Nam giai đoạn 2006 – 2020 quy định “…Tiếp tục thử nghiệm, nhân rộng các mô hình quản lý rừng cộng đồng; hoàn thiện quy chế quản lý rừng, cơ chế hưởng lợi cho các thành phần kinh tế. Thông tư số 38/2007/TT-BNN ngày 25 tháng 4 năm 2007 của Bộ Nông nghiệp và PTNT Hướng dẫn trình tự, thủ tục giao rừng, và cho thuê rừng, thu hồi rừng cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân và cộng đồng dân cư thôn.
Quyết định 106/2006/QĐ-BNN ngày 27 tháng 11 năm 2006 của Bộ Nông nghiệp và PTNT Ban hành Bản hướng dẫn QLRCĐ dân cư thôn. Quyết định này cũng chưa thể hiện được rõ ràng việc hưởng lợi giữa các cộng đồng 7 được các dự án hỗ trợ với các cộng đồng không được các dự án hỗ trợ, chưa phân định rõ được việc hưởng lợi giữa các cộng đồng được giao rừng và được khai thác gỗ với các cộng đồng được giao rừng chỉ để bảo vệ và phát triển. Ngoài những tài liệu trên, còn có các văn bản pháp lý khác ít nhiều có liên quan như: Thông tư liên tịch số 07/2011/TTLT-BNNPTNT-BTNMT giữa Bộ Nông nghiệp&PTNT với Bộ Tài nguyên môi trường, Hướng dẫn một số nội dungvề giao rừng, thuê rừng gắn liền với giao đất, thuê đất lâm nghiệp, áp dụng cho cả cộng đồng dân cư thôn, rừng cộng đồng. Thông tư số28/2018/TT-BNN&PTNT ngày 16 tháng 11 năm 2018 của Bộ Nông nghiệp &Phát triển nông thôn, Quy định về Quản lý rừng bền vững; Thông tư số 31/2018/TT-BNN&PTNT ngày 16 tháng 11 năm 2018 của Bộ Nông nghiệp &PTNT Quy định về phân định ranh giới rừng; Nghị định số 156/2018/NĐ-CP ngày 16 tháng 11 năm 2018 của Thủ Tướng Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Lâm nghiệp; Nói chung về mặt pháp lý, từ những năm đầu của thế kỷ 20, khuôn khổ luật pháp về rừng cộng đồng và quản lý rừng cộng đồng cơ bản đã được hình thành, hoàn thiện hơn, đã tạo ra những cơ sở pháp lý quan trọng trong quản lý phát triển rừng cộng đồng.
Cộng đồng dân cư về cơ bản dần được công nhận là một trong những thành phần sử dụng đất, sở hữu rừng qua các quy định trong Luật đất đai, Luật Bảo vệ & Phát triển rừng 2004 cho đến thời điểm hiện nay được thay thế bằng Luật Lâm nghiệp 2017, và nhiều Nghị định, Thông tư, các văn bản hướng dẫn về giao đất, giao rừng cho cộng đồng. Tri thức bản địa trong quản lý rừng cộng đồng Thuật ngữ “tri thức bản địa” được dùng lần đầu tiên trong một ấn phẩm xuất bản năm 1979 của Robert Chambers; năm 1980, Brokensha và D.Warren sử dụng và tiếp tục được sử dụng, phát triển cho đến hiện nay.