LỜI MỞ ĐẦU Hiện nay , các trung tâm đào tạo ngoại ngữ thành lập rất nhiều nhằm đáp ứng nhu cầu cao của người học về ngoại ngữ trong thời kì hội nhập quốc tế. Với các trung tâm có số lượng lớn học sinh, do đặc thù lớp học nhỏ, thời gian linh hoạt nên việc quản lý theo dõi học viên trở lên khó khăn và phức tạp. Người quản lý mất kiếm soát về việc bố trí, theo dõi, giám sát quá trình học của học viên. Do đó xây dựng một hệ thống quản lý được các nghiệp vụ này trên máy tính là cần thiết, có tính ứng dụng thực tiễn cao.
Đề tài quản lý phân lớp và theo dõi học viên sẽ tìm hiểu nghiệp vụ và xây dựng ứng dụng quản lý trên môi trường Internet. Sinh viên: Trần Quang Cường - Khóa 13 - ngành Công nghệ thông tin Trang 1 Đồ án tốt nghiệp Quản lý phân lớp và theo dõi học viên tại trung tâm đào tạo ngoại ngữ CHƢƠNG 1 : GIỚI THIỆU VÀ LỰA CHỌN CÔNG NGHỆ 1. Giới thiệu công nghệ Web-based Công nghệ dựa trên nền tảng Web (Web-based technology) là một thuật ngữ dùng để chỉ những ứng dụng hay phần mềm được sử dụng dựa trên nền tảng web. Tức là những ứng dụng hay phần mềm có thể truy cập thông qua trình duyệt trên hệ thống mạng như Internet hay Intranet.
Những ứng dụng web được xây dựng thông qua những ngôn ngữ mà các trình duyệt hỗ trợ như HTML, JavaScript. Những ứng dụng dựa trên nền tảng web ngày càng trở lên rất phổ biến vì những ưu điểm vượt trội của nó, mà đặc biệt là ưu điểm to lớn đối với người sử dụng (hay người sử dụng cuối cùng) trên các máy trạm (clients). Ưu điểm đối với phần máy trạm ở chỗ sử dụng những ứng dụng (application) hay phần mềm (chẳng hạn gmail, những điểm bán lẻ,.) mà không cần phải cài đặt chương trình gì mà chỉ cần chạy thông qua web. Với việc sử dụng trình duyệt (Browser) thì người dùng có thể sử dụng máy tính tại bất kỳ đâu có kết nối internet với đường truyền tốt đều có thể làm việc với máy chủ (Server) từ rất xa.
Bên cạnh những ưu điểm vượt trội về máy trạm, những ứng dụng web còn rất nhiều ưu điểm khác như: Tự động cập nhật chương trình thông qua việc cập nhật tại máy chủ, việc dùng trình duyệt làm việc có thể kết hợp với các ứng dụng web khác như thư điện tử, tìm kiếm. Người sử dụng có thể chạy chương trình trên mọi hệ điều hành như Windows, Linux, Mac… bởi chúng ta chỉ cần có mỗi trình duyệt để làm việc. Ngoài ra, máy tính của chúng ta cũng ko cần đòi hỏi quá cao về cấu hình, đĩa trống… 1. Giới thiệu về Word Wide Web Word Wide Web, gọi tắt là Web hoặc WWW, là một không gian thông tin toàn cầu mà mọi người có thể truy nhập (đọc và viết) qua các máy tính nối với mạng Internet.
Thuật ngữ này thường được hiểu nhầm là từ đồng nghĩa với chính thuật ngữ Internet. Nhưng Web thực ra chỉ là một trong các dịch vụ chạy trên Internet, chẳng hạn như dịch vụ thư điện tử. Web được phát minh và đưa vào sử dụng vào khoảng năm 1990, 1991 bởi Sinh viên: Trần Quang Cường - Khóa 13 - ngành Công nghệ thông tin Trang 2 Đồ án tốt nghiệp Quản lý phân lớp và theo dõi học viên tại trung tâm đào tạo ngoại ngữ viện sĩ Viện Hàn lâm Anh Tim Berners- Lee và Robert Cailliau (Bỉ) tại CERN, Geneva, Switzerland. Các tài liệu trên World Wide Web được lưu trữ trong một hệ thống siêu văn bản (hypertext), đặt tại các máy tính trong mạng Internet.
Người dùng phải sử dụng một chương trình được gọi là trình duyệt web (web browser) để xem siêu văn bản. Chương trình này sẽ nhận thông tin (documents) tại ô địa chỉ (address) do người sử dụng yêu cầu (thông tin trong ô địa chỉ được gọi là tên miền (domain name), rồi sau đó chương trình sẽ tự động gửi thông tin đến máy chủ (web server) và hiển thị trên màn hình máy tính của người xem. Người dùng có thể theo các liên kết siêu văn bản (hyperlink) trên mỗi trang web để nối với các tài liệu khác hoặc gửi thông tin phản hồi theo máy chủ trong một quá trình tương tác. Hoạt động truy tìm theo các siêu liên kết thường được gọi là duyệt Web.
Giao thức HTTP - HTTPS 1. HTTP hoạt động dựa trên mô hình Client – Server. Trong mô hình này, các máy tính của người dùng sẽ đóng vai trò làm máy khách (Client). Sau một thao tác nào đó của người dùng, các máy khách sẽ gửi yêu cầu đến máy chủ (Server) và chờ đợi câu trả lời từ những máy chủ này.
Để có thể nói chuyện được với nhau, các máy chủ và máy khách phải thực hiện việc trao đổi thông qua các giao thức mà giao thức được sử dụng thường xuyên nhất chính là HTTP. Đây là một sự kết hợp giữa giao thức HTTP và giao thức bảo mật SSL hay TLS. HTTPS giúp cho việc trao đổi thông tin một cách bảo mật trên nền Internet. Sinh viên: Trần Quang Cường - Khóa 13 - ngành Công nghệ thông tin Trang 3 Đồ án tốt nghiệp Quản lý phân lớp và theo dõi học viên tại trung tâm đào tạo ngoại ngữ 1.
Giao thức FTP 1. Giới thiệu FTP (File Transfer Protocol) được dùng để trao đổi tập tin qua mạng lưới truyền thông dùng giao thức TCP/IP. Hoạt động của FTP cần có ít nhất hai máy tính, một máy chủ và một máy khách. Máy chủ FTP, dùng chạy phần mềm cung cấp dịch vụ FTP, gọi là trình chủ, lắng nghe yêu cầu về dịch vụ của các máy tính khác trên mạng.
Máy khách chạy phần mềm FTP dành cho người sử dụng dịch vụ, gọi là trình khách, thì khởi đầu một liên kết với máy chủ. Một khi hai máy liên kết với nhau, máy khách có thể xử lý một số thao tác về tập tin, như tải tập tin lên máy chủ, tải tập tin từ máy chủ xuống máy khách, đổi tên của tập tin, hoặc xóa tập tin ở máy chủ v. Giao thức FTP là một giao thức chuẩn công khai, cho nên bất cứ một công ty phần mềm nào, hay một lập trình viên nào cũng có thể viết trình chủ FTP hoặc trình khách FTP. Hầu như bất cứ một nền tảng hệ điều hành máy tính nào cũng hỗ trợ giao thức FTP.
Điều này cho phép tất cả các máy tính kết nối với một mạng dựa trên TCP/IP, xử lý tập tin trên một máy tính khác trên cùng một mạng, không phụ thuộc vào hệ điều hành (nếu các máy tính ấy đều cho phép sự truy cập của các máy tính khác, dùng giao thức FTP). Mục đích của giao thức FTP Mục đích của giao thức FTP, như được phác thảo trong bản RFC, là: 1) Khuyến khích việc dùng chung tập tin (như chương trình ứng dụng vi tính hoặc dữ liệu) 2) Khuyến khích việc sử dụng máy tính ở xa một cách gián tiếp. 3) Che đậy sự khác biệt về hệ thống lưu trữ tập tin giữa các máy chủ, hầu cho người dùng không cần phải quan tâm đến những sự khác biệt riêng tư của chúng. 4) Truyền tải dữ liệu một cách đáng tin cậy và có hiệu quả cao.
Sinh viên: Trần Quang Cường - Khóa 13 - ngành Công nghệ thông tin Trang 4 Đồ án tốt nghiệp Quản lý phân lớp và theo dõi học viên tại trung tâm đào tạo ngoại ngữ 1. Tổng quan về PHP 1. Lịch sử phát triển a. PHP Được phát triển từ một sản phẩm có tên là PHP/FI.
PHP/FI do Rasmus Lerdorf tạo ra năm 1995, ban đầu được xem như là một tập con đơn giản của các mã kịch bản Perl để theo dõi tình hình truy cập đến bản sơ yếu lý lịch của ông trên mạng. Ông đã đặt tên cho bộ mã kịch bản này là 'Personal Home Page Tools'.0 được chính thức công bố vào tháng 11 năm 1997, sau một thời gian khá dài chỉ được công bố dưới dạng các bản hoàn chỉnh chức năng. Nhưng không lâu sau đó, nó đã được thay thế bởi các bản thử nghiệm đầu tiên của PHP 3.0 là phiên bản đầu tiên cho thấy một hình ảnh gần gũi với các phiên bản PHP mà chúng ta được biết ngày nay. Nó đã được Andi Gutmans và Zeev Suraski tạo ra năm 1997 sau khi viết lại hoàn toàn bộ mã nguồn trước đó.0 đã chính thức được công bố vào tháng 6 năm 1998, sau thời gian 9 tháng được cộng đồng kiểm nghiệm.
PHP 4 Vào mùa đông năm 1998, ngay sau khi PHP 3.0 chính thức được công bố, Andi Gutmans và Zeev Suraski đã bắt đầu bắt tay vào việc viết lại phần lõi của PHP. Một cơ chế xử lý mới, có tên 'Zend Engine' (ghép từ các chữ đầu trong tên của Zeev và Andi), đã đáp ứng được các nhu cầu thiết kế này một cách thành công, và lần đầu tiên được giới thiệu vào giữa năm 1999.0, dựa trên cơ chế xử lý này, và đi kèm với hàng loạt các tính năng mới bổ sung, đã chính thức được công bố vào tháng 5 năm 2000, gần 2 năm sau khi bản PHP 3. PHP 5 Sự thành công hết sức to lớn của PHP 4.0 đã không làm cho nhóm phát triển PHP tự mãn. Cộng đồng PHP đã nhanh chóng giúp họ nhận ra những yếu kém của PHP 4 đặc Sinh viên: Trần Quang Cường - Khóa 13 - ngành Công nghệ thông tin Trang 5 Đồ án tốt nghiệp Quản lý phân lớp và theo dõi học viên tại trung tâm đào tạo ngoại ngữ biệt với khả năng hỗ trợ lập trình hướng đối tượng (OOP), xử lý XML, không hỗ trợ giao thức máy khách mới của MySQL 4.0, hỗ trợ dịch vụ web yếu.
Những điểm này chính là mục đích để Zeev và Andi viết Zend Engine 2. Ngày 29 tháng 6 năm 2003, PHP 5 Beta 1 đã chính thức được công bố để cộng đồng kiểm nghiệm. Đó cũng là phiên bản đầu tiên của Zend Engine 2. Phiên bản Beta 2 sau đó đã ra mắt vào tháng 10 năm 2003 với sự xuất hiện của hai tính năng rất được chờ đợi: Iterators, Reflection nhưng namespaces một tính năng gây tranh cãi khác đã bị loại khỏi mã nguồn.
Ngày 21 tháng 12 năm 2003: PHP 5 Beta 3 đã được công bố để kiểm tra, bỏ hỗ trợ Windows 95, khả năng gọi các hàm PHP bên trong XSLT, sửa chữa nhiều lỗi và thêm khá nhiều hàm mới. PHP 5 bản chính thức đã ra mắt ngày 13 tháng 7 năm 2004 sau một chuỗi khá dài các bản kiểm tra thử bao gồm Beta 4, RC 1, RC2, RC3. Mặc dù coi đây là phiên bản sản xuất đầu tiên nhưng PHP 5.0 vẫn còn một số lỗi trong đó đáng kể là lỗi xác thực HTTP.