Mở đầu - Chƣơng 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu - Chƣơng 2: Đối tƣợng và phƣơng pháp nghiên cứu - Chƣơng 3: Kết quả nghiên cứu - Kết luận và kiến nghị - Tài liệu tham khảo - Phụ lục 2 CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Cơ sở lý luận Nƣớc thải bệnh viện là một nguồn nƣớc thải gây nguy hại nghiêm trọng cho môi trƣờng, ảnh hƣởng lớn đến sức khỏe con ngƣời. Nguồn phát sinh nƣớc thải bệnh viện có thể chia thành 3 nguồn chính sau: - Nƣớc thải từ các phòng khám và điều trị, từ các labo xét nghiệm (giải phẫu bệnh, huyết học, truyền máu, nhà đại thể.) đây là nguồn chất thải nguy hại; - Nƣớc thải có lẫn hóa chất từ các phòng dƣợc nhƣ các loại thuốc, vacxin, huyết thanh quá hạn, các loại hóa chất nhƣ dung môi hữu cơ, hoá chất xét nghiệm, các hợp chất vô cơ. - Nƣớc thải sinh hoạt của cán bộ công nhân viên, ngƣời nhà bệnh nhân từ các khoa, phòng, nhà bếp, nhà ăn.
Đặc trƣng ô nhiễm trong nƣớc thải bệnh viện ngoài các yếu tố ô nhiễm thông thƣờng nhƣ: chất hữu cơ, dầu mỡ động thực vật, vi khuẩn, còn có những chất khoáng và hữu cơ đặc thù nhƣ: các phế phẩm thuốc, các chất khử trùng, các dung môi hữu cơ, dƣ lƣợng thuốc kháng sinh, các đồng vị phóng xạ đƣợc sử dụng trong quá trình chuẩn đoán và điều trị bệnh. Nƣớc thải bệnh viện có thể mang các mầm bệnh: tả, thƣơng hàn, lỵ, lỵ amip, leptospyros, bệnh vàng da nhiễm trùng, viêm gan siêu vi trùng, giun sán, nấm mốc, bại liệt. Kết quả khảo sát thực tế ở nhiều bệnh viện trong nhiều năm của PGS. TSKH Nguyễn Xuân Nguyên cho thấy thành phần ô nhiễm nƣớc thải thƣờng ở trong mức sau: Bảng 1.
Các thông số ô nhiễm trong nƣớc thải bệnh viện Nồng độ Nồng độ Nồng độ TT Chỉ tiêu Đơn vị thấp nhất cao nhất trung bình 1 pH - 6,2 8,1 7,4 2 Amoni mg/l 8 25 14 3 BOD5 mg/l 110 250 150 3 Nồng độ Nồng độ Nồng độ TT Chỉ tiêu Đơn vị thấp nhất cao nhất trung bình 4 COD mg/l 140 300 200 5 Chất rắn lơ lửng mg/l 100 220 160 6 Coliform MPN/100ml 106 109 107 Nguồn: [3] Theo Tổ chức Môi trƣờng thế giới, nƣớc thải bệnh viện ô nhiễm nhiều có hàm lƣợng chất rắn lơ lửng là 350 mg/l; tổng lƣợng các bon hữu cơ 290 mg/l; tổng phốtpho (tính theo P) là 15 mg/l và tổng nitơ 85 mg/l; coliform từ 108-109 MPN/100ml [14]. Nƣớc thải bệnh viện gây tác động xấu đến môi trƣờng và sức khỏe con ngƣời nếu không đƣợc xử lý. Các tác động chính của nƣớc thải bệnh viện do vi khuẩn gây bệnh có khả năng lan rộng trong môi trƣờng, mức độ nhiễm khuẩn cao, có khả năng tồn tại lâu và nhân lên trong điều kiện môi trƣờng giàu chất hữu cơ của nƣớc thải và nƣớc bề mặt. Ngoài ra nƣớc thải bệnh viện còn gây các tác động nguy hại đến sức khỏe con ngƣời và động thực vật thủy sinh bởi các yếu tố gây độc nhƣ: tồn dƣ hóa chất, phóng xạ, kim loại… Các yếu tố này có thể gây nhiễm độc cho con ngƣời và sinh vật nếu có tiếp xúc trực tiếp.
Hậu quả có thể gây các bệnh về da liễu, mắt, hô hấp, thậm trí gây các bệnh ung thƣ nếu nƣớc thải bệnh viện xâm nhập nguồn nƣớc cấp sinh hoạt. Sự có mặt của các chất này ảnh hƣởng bất lợi cho quá trình xử lý nƣớc thải bằng phƣơng pháp sinh học và cản trở các qúa trình sinh hoá khác diễn ra trong nƣớc dẫn đến việc giảm hiệu quả làm sạch nƣớc thải trên các công trình xử lý. Việc xử lý nƣớc thải y tế là rất cần thiết. Hoạt động xử lý nƣớc thải y tế phụ thuộc nhiều yếu tố, trong đó thu gom cũng là một khâu rất quan trọng.
Thu gom nƣớc thải tốt sẽ tách đƣợc lƣợng nƣớc thải không cần xử lý hay chỉ xử lý thông thƣờng với lƣợng nƣớc thải phải xử lý đặc biệt. Nhƣ vậy sẽ làm giảm chi phí cho xử lý nƣớc thải, tăng độ bền của công trình do hệ thống không phải làm việc quá tải. Nguyên tắc chung thu gom nƣớc thải bệnh viện là: 4 Tách lƣợng nƣớc mƣa chảy tràn vào hệ thống thu riêng, phù hợp cả về bố trí hệ thống máng, rãnh, cống và bể điều hoà. Tách lƣợng nƣớc sinh hoạt thông thƣờng nhƣ nƣớc nấu ăn và chế biến thực phẩm, nƣớc thải khu hành chính, văn phòng.
Thu gom triệt để lƣợng nƣớc thải từ hoạt động chuyên môn khám bệnh, chuẩn đoán và điều trị. Nguồn thải này phải xử lý trƣớc khi thải vào lƣu vực. Mục đích xử lý nƣớc thải bệnh viện là khử các tạp chất và vi khuẩn gây bệnh để nƣớc sau khi xử lý đảm bảo các quy chuẩn kỹ thuật hiện hành có thể xả vào nguồn tiếp nhận. Do vậy, nƣớc thải bệnh viện cần phải thu gom từ các khoa phòng về bể tập trung để xử lý, sau đó xả vào nơi quy định.
Xử lý ở mức độ nào đó sẽ tuỳ thuộc vào điều kiện môi trƣờng, đặc điểm thuỷ vực của nguồn tiếp nhận, phƣơng pháp xử lý nƣớc thải. Sau khi xử lý đạt yêu cầu, nƣớc thải đƣợc phép đổ vào nguồn thải. Các bƣớc xử lý nƣớc thải chính bao gồm: xử lý sơ bộ, xử lý cơ bản và xử lý bổ sung. Xử lý sơ bộ thƣờng loại đƣợc hầu hết tạp chất rác, sợi, vật nổi, tạp chất nặng và một phần tạp chất ở dạng lơ lửng.
Xử lý cơ bản chủ yếu là ứng dụng các quá trình sinh học. Công đoạn này phân huỷ sinh học hiếu khí các chất hữu cơ, chuyển các chất hữu cơ dễ phân huỷ thành các chất vô cơ và chuyển các chất hữu cơ ổn định thành bông cặn dễ loại bỏ ra khỏi nƣớc. Xử lý bổ sung là công đoạn khử khuẩn để đảm bảo nƣớc trƣớc khi đƣợc đổ vào các thuỷ vực không còn vi sinh vật gây bệnh. Ngoài ra, công đoạn này có thể phải tiếp tục nâng cao chất lƣợng nƣớc đã xử lý để tái sử dụng hoặc để xả vào nguồn tiếp nhận có yêu cầu cao.
Hiện nay hoạt động xử lý nƣớc thải y tế áp dụng công nghệ AAO đƣợc đánh giá là có nhiều ƣu điểm vƣợt trội: hiệu qủa xử lý cao, chi phí vận hành thấp, ổn định và trình độ tự động hóa cao. Công nghệ AAO hiện đang là công nghệ tiên 5 tiến nhất của Nhật Bản trong xử lý nƣớc thải bệnh viện. Công nghệ này hiện đang áp dụng nhiều trên thế giới.2 Hiện trạng vấn đề nƣớc thải bệnh viện và xử lý nƣớc thải bệnh viện 1.1 Nƣớc thải bệnh viện và hoạt động xử lý nƣớc thải bệnh viện ở Việt Nam Theo thống kê của Bộ Y tế, đến năm 2013 hệ thống cơ sở hạ tầng bệnh viện tuyến trung ƣơng và tuyến tỉnh đều đƣợc nâng cấp, mở rộng để tăng thêm giƣờng cho các bệnh viện. Do đó, tình trạng quá tải đã giảm đáng kể, 1.350 giƣờng bệnh mới cho bệnh viện tuyến trung ƣơng đã đƣợc bổ sung.
Tỷ lệ giƣờng bệnh thực kê tăng thêm so với năm 2012 trên toàn quốc đạt 6,2% (12.511 giƣờng bệnh) trong đó các bệnh viện trực thuộc Bộ Y tế tăng 7,3% (1.602 giƣờng bệnh); bệnh viện tuyến tỉnh tăng 5,4% (5.620 giƣờng bệnh); bệnh viện tuyến huyện tăng 7% (4.554 giƣờng bệnh). Nhƣ vậy bình quân đạt 22,1 giƣờng bệnh/10. Bộ Y tế đã triển khai kế hoạch đầu tƣ xây dựng cơ sở 2 cho một số bệnh viện có mức độ quá tải cao với hình thức sử dụng vốn cổ phần hóa doanh nghiệp. Ngoài ra, các bệnh viện đã cải tạo, cơi nới, kê thêm giƣờng để giải quyết tạm thời chỗ nằm cho bệnh nhân.
Cùng với sự gia tăng nhu cầu và nâng công suất hoạt động của các bệnh viện thì áp lực do vấn đề ô nhiễm của nƣớc thải bệnh viện rất đáng báo động. Theo số liệu điều tra của Bộ Y tế, ở Việt Nam nƣớc thải bệnh viện chƣa đƣợc xử lý hiệu quả, tỉ lệ các bệnh viện có hệ thống xử lý nƣớc thải thấp: các bệnh viện tuyến Trung ƣơng: khoảng 74%, các bệnh viện tuyến tỉnh: 40% và các bệnh viện tuyến huyện: 27%. Các công nghệ xử lý nƣớc thải đƣợc áp dụng đã cũ, xuống cấp, không còn đảm bảo quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trƣờng nhƣ các công nghệ: lọc sinh học nhiều tầng, aeroten truyền thống, ao sinh học, lọc sinh học nhỏ giọt. Một số cơ sở y tế có hệ thống xử lý nƣớc thải nhƣng không bảo trì thƣờng xuyên nên không hoạt động.
Một số bệnh viện có hệ thống xử lý nƣớc thải hiện đại nhƣng không vận hành vì chi phí lớn. 6 Theo Dự án đầu tƣ xây dựng hệ thống xử lý chất thải cho các cơ sở công lập, kết quả điều tra tại 7236 cơ sở Y tế của 47 tỉnh, thành phố cho thấy chỉ có 990 cơ sở có hệ thống xử lý nƣớc thải (chiếm 14,3%), trong đó các cơ sở tuyến trung ƣơng là 23, tuyến địa phƣơng là 966. Con số này rất thấp so với yêu cầu về xử lý nƣớc thải đối với các cơ sở Y tế. Trong số các hệ thống xử lý nƣớc thải, có khoảng 497 hệ thống hoạt động có hiệu quả (chiếm 49,9%), số còn lại xử lý không đạt QCVN hoặc không hoạt động do hỏng và thiếu kinh phí hoạt động.
Hoạt động xử lý nƣớc thải cũng gặp nhiều khó khăn do thiếu nhân lực, phƣơng tiện, kiến thức, kỹ năng. Lƣợng nƣớc thải y tế phát sinh và đƣợc xử lý của các cơ sở y tế Lƣợng nƣớc thải Lƣợng nƣớc thải Loại cơ sở y tế đƣợc xử lý phát sinh (m3/ngày) (m3/ngày) A - Tuyến trung ƣơng: tổng (42) 13.951 Cơ sở khám chữa bệnh (34) 10.875 Cơ sở đào tạo y, dƣợc (8) 2.364 77 B - Tuyến địa phƣơng: tổng (47) 112. Hồ Chí Minh (51 bệnh viện) cho thấy: Nƣớc thải bệnh viện có các chỉ số đặc trƣng nhƣ sau: BOD: 180 – 280 mg/l, COD: 250 – 500 mg/l, SS: 150 – 300 mg/l, H2S: 6 – 8 mg/l, T-N: 50 - 90 mg/l, T- P: 3 -12 (mg/l), Coliform: 106 - 109 MNP/100ml. Chi phí xử lý nƣớc thải khoảng 2.
7 Có 12/90 hệ thống xử lý nƣớc thải trong khu vực nghiên cứu của Tiến sĩ Ngô Kim Chi không hoạt động, trên 31,3% trong số đó không thể hoạt động do chức năng kém và khó sửa chữa, 41,67% hệ thống xử lý nƣớc thải chƣa đảm bảo yêu cầu của QCVN về nƣớc thải bệnh viện, 40,7% số bệnh viện đƣợc khảo sát không có hệ thống xử lý nƣớc thải.